
Đại cương và Tần suất:
- Tần suất bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) ngày càng tăng, ước tính khoảng 264 triệu người lớn trên thế giới hiện nay và dự kiến 380 triệu vào năm 2025.
- Ở Việt Nam, tần suất mắc ĐTĐ là 5%.
- Ước tính 50% bệnh nhân ĐTĐ được phẫu thuật (PT) trong suốt quãng đời của họ. PT có thể do biến chứng ĐTĐ (bệnh động mạch vành, mạch máu, thận) hoặc các bệnh lý khác.
Đánh giá trước phẫu thuật:
- Cần đánh giá kỹ lưỡng các thông tin liên quan đến ĐTĐ (Type, thời gian, điều trị, HbA1C) và các bệnh lý đi kèm (tim mạch, thận, thần kinh ngoại biên).
- Tiêu chí chẩn đoán ĐTĐ mới theo ADA 2010 là HbA1C ≥ 6,5%.
- Nếu HbA1C > 8%, cho thấy kiểm soát chưa đạt, dự kiến tăng insulin chu phẫu.
- Bệnh lý thận do ĐTĐ đặc biệt liên quan đến gây mê vì thận là đường thải trừ của nhiều thuốc.
- Cần chú ý hội chứng cứng khớp ở BN ĐTĐ có thể gây khó khăn khi soi thanh quản và dấu hiệu “bàn tay cầu nguyện” có thể giúp phát hiện.
- Rối loạn chức năng thần kinh tự động có thể làm chậm làm trống dạ dày (gastroparesis), tăng nguy cơ trào ngược gây hít sặc vào phổi.
Thách thức và Mục đích xử trí chuyển hóa chu phẫu:
- Các yếu tố làm phức tạp kiểm soát đường là nhịn đói, đáp ứng chuyển hóa và nội tiết với PT, kỹ thuật gây mê và tình trạng bất động sau mổ.
- Mục đích chăm sóc chuyển hóa chu phẫu là tránh hạ đường huyết hoặc tăng đường huyết quá mức (dưới 10 mmol/L), hạn chế ly giải mỡ và đạm, và tránh mất điện giải (K, Mg, P).
- Khuyến cáo nên duy trì nồng độ glucose chu phẫu 6-10 mmol/L.
Kiểm soát đường chu phẫu:
- Đối với BN ĐTĐ type 1, truyền dung dịch GIK (Glucose Insulin Kalichloride) là đồng thuận, bắt đầu sớm và duy trì đến 2 giờ sau khi ăn lại.
- Đối với BN ĐTĐ type 2, đại phẫu cần dùng GIK, tiểu phẫu chỉ cần uống lại thuốc hạ đường huyết hoặc dùng insulin tiêm dưới da sau mổ.
Chọn phương pháp vô cảm:
- Gây tê vùng có lợi điểm là dễ phát hiện hạ đường huyết ở BN tỉnh, giảm đáp ứng sinh hormone dị hóa, và hồi phục tốt hơn gây mê.
- Tuy nhiên, có nguy cơ tụt HA trầm trọng ở BN có bệnh lý thần kinh tự động và tăng nguy cơ nhiễm khuẩn khi phong bế trục thần kinh.
- Thuốc mê bay hơi có thể ức chế tiết insulin, có thể tránh bằng cách chọn phương pháp gây mê tĩnh mạch hoàn toàn (TIVA).
Theo dõi và Chăm sóc hậu phẫu:
- Thường xuyên theo dõi glucose máu (mỗi giờ sau đại phẫu), Kali máu, phân tích khí máu động mạch, Cetone niệu, và Blood $\beta$-hydroxybutyrate.
- Cần kiểm soát tốt tình trạng đau sau mổ để giảm tiết hormone dị hóa.
- Phải đảm bảo đường máu, Kali máu ổn định và liều insulin thích hợp trước khi BN rời phòng mổ.
- Việc chăm sóc ngoại khoa cho BN ĐTĐ hiện nay chủ yếu dựa vào hiểu biết về sinh lý bệnh học và theo dõi tích cực nồng độ glucose máu.
Link: https://drive.google.com/file/d/1pe48RZFCNduVmIcBZ5wLax3T1T04CYv8/view?usp=sharing
Y khoa Tây Nguyên Y khoa Tây Nguyên

