NHẬP NỘI DUNG CẦN TÌM KIẾM VÀO Ô NÀY!

Bệnh học RỐI LOẠN CHUYỂN HÓA MAGIE

Thảo luận trong 'Nội tiết' bắt đầu bởi hlthaibao, 5/11/16.

LÀ 1 THÀNH VIÊN BIẾT CHIA SẺ - HÃY ĐĂNG BÀI XÂY DỰNG CỘNG ĐỒNG
BẤM NÚT LIKE CUỐI BÀI - COMMENT CẢM ƠN NGƯỜI ĐĂNG - SHARE BÀI VIẾT CHO CỘNG ĐỒNG LÀ HÀNH VI ỨNG XỬ ĐẸP CÓ VĂN HÓA
  1. hlthaibao

    hlthaibao Người sáng lập Ban quản trị ADMIN Sáng lập diễn đàn Thành viên

    Tham gia ngày:
    27/7/15
    Bài viết:
    1,062
    Đã được thích:
    1,295
    Điểm thành tích:
    942
    Giới tính:
    Nam
    Nghề nghiệp:
    Bác sỹ
    Nơi ở:
    Đại học tây nguyên
    Web:
    Money:
    7,785$
    RỐI LOẠN CHUYỂN HÓA MAGIE
    Khối lượng magiê của cơ thể khoảng 12,4 mmol/kg cân nặng (0,3g/kg). Magiê là cation chủ yếu
    trong tế bào chiếm 31%, magiê ngoại bào: 1% và 67% liên kết trong mô xương. Nồng độ magiê
    huyết tương 0,7 - 1,0 mmol/l (1,8 - 2,5 mg%). Magiê có tác dụng điều hoà chuyển hoá ATP nội
    bào. Nhu cầu magiê 15 - 20 mmol/ngày (36 - 48 mg%/ngày).6.1. GIẢM MAGIÊ MÁU6.1.1. Triệu chứng của giảm magiê máu:Khi magiê huyết tương < 0,7mmol/l được gọi là giảm magiê máu, chỉ cần ăn chế độ
    nghèo magiê trong thời gian 3 - 7 ngày sẽ xuất hiện triệu chứng của giảm magiê máu với biểu
    hiện:
    + Chán ăn, buồn nôn, nôn, ngủ li bì, tình trạng yếu mệt kéo dài hàng tuần.
    + Nặng hơn nữa xuất hiện trạng thái dị cảm: tê bì, kiến bò, trạng thái chuột rút, mất khả
    năng tập trung, ý thức lẫn lộn kéo dài hàng tháng.
    + Giảm magiê máu thường kèm theo giảm canxi máu, thường xuất hiện dấu hiệu Chvostek
    (+), dấu hiệu Trousseau (+) và một số triệu chứng khác:
    - Co cứng cơ bắp chân.
    - Rung sợi cơ, múa vờn, co cứng các ngón tay.
    - Những cơn co giật toàn thân trầm trọng xuất hiện đột ngột.
    + 1/2 những trường hợp giảm magiê kết hợp với giảm kali máu không rõ căn nguyên và sự
    điều chỉnh magiê trở nên khó khăn. Điều chỉnh magiê sẽ làm giảm kali trầm trọng hơn và ngược
    lại.
    + Rối loạn nhịp tim: giảm magiê gây rối loạn nhịp tim giống như giảm kali máu.
    - Nhịp tim nhanh.
    - Rối loạn dẫn truyền.
    - Nhịp xoắn đỉnh.
    - Rung thất, cuồng thất, ngừng tim.
    Các rối loạn nhịp tim thường xuất hiện ở những bệnh nhân vừa giảm magiê vừa giảm
    kali máu. Những biểu hiện trên điện tim giống với giảm kali máu: ST chênh, QT dài, T dẹt, xuất
    hiện sóng U. Sự thiếu hụt magiê làm giảm men ATP-ase phụ thuộc Na+, K+, Mg++ trong cơ tim,
    tăng tính nhạy cảm của cơ tim với các kích thích. Magiê có vai trò duy trì nồng độ kali nội bào,
    làm tăng vận chuyển kali vào cơ tim.6.1.2. Nguyên nhân giảm magiê máu:* Giảm magiê di truyền xuất hiện từ lúc sơ sinh:
    * Bệnh l{ đường tiêu hoá:
    - Viêm ruột non, dẫn lưu đường mật.
    - Bệnh Whipple: đau khớp, đau bụng, đi lỏng, sút cân, sốt nhẹ, hạch ngoại vi, suy tim,
    viêm nội tâm mạc, tổn thương thần kinh khu trú, rung giật nhãn cầu, liệt thần kinh vận nhãn,
    thiếu máu, giảm albumin máu.
    - Tổn thương ruột do lymphoma.
    - Suy tụy mãn tính, viêm tụy mãn tính
    - Đi lỏng kéo dài
    - Hội chứng ruột ngắn.
    * Nguyên nhân nội tiết:
    - Cường aldosteron tiên phát.
    - Hội chứng Bartter: tăng sản tế bào cạnh cầu thận, tăng renin, tăng tiết aldosteron, tăng
    angiotensin nhưng không tăng huyết áp, giảm kali máu, giảm magiê máu, tăng magiê niệu.
    - Hội chứng Gitelman: giảm magiê máu, giảm kali máu, nhiễm kiềm máu mức độ nhẹ, tăng
    magiê niệu, giảm bài tiết canxi niệu, triệu chứng lâm sàng tương tự như hội chứng
    Bartter.
    - Nhiễm toan do đái đường, nhiễm toan do rượu.
    * Giảm magiê do thuốc:
    - Cyclosporine A.
    - Kháng sinh nhóm aminoglycoside.
    - Cisplatin.
    - Các thuốc lợi tiểu.
    - Một số nguyên nhân khác: bệnh lý ống thận, thai nghén.
    6.2. TĂNG MAGIÊ MÁU.6.2.1. Căn nguyên của tăng magiê:- Suy thận mãn tính giai đoạn cuối.
    - Suy tuyến thượng thận.
    - Tăng magiê di truyền: tăng magiê, tăng canxi máu, giảm canxi niệu.
    - Sử dụng nguồn nước có nồng độ magiê cao.6.2.2. Triệu chứng:Tăng magiê thường không có triệu chứng; thường xuất hiện trong bệnh cảnh của giảm
    canxi máu, tăng kali máu và tăng urê máu. Biểu hiện chủ yếu của tăng magiê máu là giảm dẫn
    truyền thần kinh-cơ, giảm hoạt động của hệ thống thần kinh trung ương.
    - Buồn nôn, nôn, dị cảm cục bộ khi magiê trong khoảng 2 - 4 mmol/l (2 - 4 mg%).
    - Giảm thông khí, giảm dung tích sống, yếu cơ, giảm phản xạ gân xương khi magiê >
    5mmol/l (> 12 mg%).
    - Giảm huyết áp, nhịp tim chậm, giãn mạch lan toả khi magiê > 7,5 mmol/l.
    - Khi magiê > 8 mmol/l sẽ dẫn đến mất phản xạ, hôn mê, liệt cơ hô hấp, ngừng thở, rối loạn
    nhịp tim trầm trọng: nhanh thất, rung thất, nhịp tự thất, vô tâm thu.
    Khi xuất hiện triệu chứng nhiễm độc magiê mức độ nặng cần tiến hành chạy thận nhân tạo.2. HỘI CHỨNG PORPHYRIN NIỆUPorphyrin niệu là bệnh bẩm sinh do sự thiếu hụt các men trong quá trình tổng hợp Hem, Hem
    được tổng hợp từ succinyl CoA và glycine. Quá trình tổng hợp như sau:
    Sự thiếu hụt một trong những men trên sẽ dẫn đến porphyrin niệu, bệnh có tính chất di truyền,
    thường hay thiếu men proto-oxidase. Biểu hiện của chứng porphyrin niệu: nước tiểu màu đỏ,
    xuất hiện thành từng đợt, quay ly tâm không có hồng cầu lắng ở đáy ống nghiệm. Đái porphyrin
    thường gây tổn thương ở nhiều cơ quan:
    - Tổn thương gan: viêm gan cấp tính (tăng bilirubin máu, tăng SGOT, SGPT).
    - Đau bụng dữ dội thành từng cơn không rõ căn nguyên.
    - Tổn thương não gây liệt vận động, liệt cơ hô hấp.
    - Tổn thương da, chủ yếu tình trạng da dễ nhậy cảm với ánh sáng, sạm da.
    - Một số trường hợp thiếu máu.
    Sơ đồ 16. Quá trình tổng hợp Hem và hệ thống men tham gia tổng hợp Hem
    (ALA: d- aminolevulinate, HMB: hydroxymethylbilane, URO: uroporphyrinogen)
    3. HỘI CHỨNG PROTEIN NIỆUBình thường, protein niệu không có hoặc protein niệu dưới 0,2g/24giờ. Protein niệu (+) khi
    lượng protein niệu vượt quá 0,2g/ngày. Protein niệu không màu, kết tủa khi đun nóng, hoặc tủa
    khi nhỏ axit sulfosalicylic, axit nitric, axit acetic. Khi protein niệu vượt quá 3 g/24 giờ sẽ xuất
    hiện hội chứng thận hư.
    Có 3 loại protein niệu:
    - Protein niệu nguồn gốc là protein của huyết tương.
    - Bence-Jones protein là chuỗi nhẹ của immunoglobulin do tương bào sản xuất.
    - Tamm-Horsfall protein là những muco protein do tế bào biểu mô ống thận sản xuất.1. Thành phần của protein niệu và căn nguyên.Thành phần chủ yếu của protein niệu thông thường là albumin và globulin. Dựa vào kết quả
    điện di protein, người ta chia protein niệu chọn lọc và không chọn lọc.1.1. Protein niệu chọn lọc:Khi albumin niệu chiếm > 80% lượng protein niệu được gọi là protein niệu chọn lọc, nếu
    albumin niệu > 90% được gọi protein niệu rất chọn lọc. Protein niệu chọn lọc gặp trong hội
    chứng biến đổi tối thiểu (bệnh thận hư nhiễm mỡ). Protein niệu chọn lọc thường có tiên lượng
    tốt, đáp ứng tốt với điều trị bằng corticoid.1.2. Protein niệu không chọn lọc:
    Khi albumin niệu < 80% lượng protein niệu. Protein niệu không chọn lọc gặp trong các bệnh
    sau:
    + Viêm cầu thận cấp do liên cầu khuẩn.
    + Viêm cầu thận mãn tính không rõ căn nguyên:
    - Viêm cầu thận tăng sinh gian mạch.
    - Viêm cầu thận màng
    - Viêm cầu thận màng tăng sinh.
    - Viêm cầu thận tăng sinh ngoài mao mạch.
    - Viêm cầu thận ổ đoạn.
    - Xơ hoá cầu thận ổ đoạn
    + Viêm cầu thận thứ phát:
    - Viêm cầu thận do luput ban đỏ hệ thống.
    - Viêm cầu thận do viêm đa cơ.
    - Tổn thương thận do xơ cứng bì toàn thể.
    - Hội chứng Goodpasture.
    - Bệnh u hạt Wegener.+ Tổn thương thận do đái đường: protein niệu xuất hiện là dấu hiệu xấu, thường kèm theo
    xơ hoá tiểu động mạch thận lành tính hoặc xơ hoá tiểu động mạch thận ác tính, hội chứng thận
    hư, suy thận xuất hiện sớm.
    + Tổn thương thận do thai nghén: protein niệu > 3 g/ngày, hội chứng thận hư, tăng axit uric,
    tăng creatinin và tăng huyết áp. Đó là những dấu hiệu của tiền sản giật.1.3. Cơ chế bệnh sinh của protein niệu:1.3.1. Mất điện thế âm tính màng nền:Màng lọc lọc của cầu thận được cấu tạo rất phức tạp gồm 3 lớp:
    - Lớp trong cùng là tế bào biểu mô láng không hoàn toàn trên bề mặt màng nền tạo nên
    những lỗ nhỏ có kích thước 160Ao. Màng nền cầu thận được cấu tạo bởi các sợi glycoprotein
    đan ch o nhau và tạo nên các lỗ có kích thước 110Ao. Lớp ngoài cùng là tế bào biểu mô có giả
    túc bám chi chít trên màng nền, giữa các chân có các lỗ nhỏ kích thước 70Ao. Các lỗ nhỏ màng
    lọc có hình dáng, kích thước khác nhau. Trên các lỗ nhỏ phía trong và ngoài màng nền đều có
    điện tích âm tính tạo bởi các anion của axit sialic. Các lỗ nhỏ ở màng nền cho phép các phân tử
    protein trung hoà hoặc mang điện tích (+) có kích thước phân tử < 42Ao vượt qua màng lọc dễ
    dàng, nhưng không cho ph p tất cả protein máu có kích thước phân tử từ 22Aotrở lên mang
    điện tích (-) vượt qua màng lọc vào khoang Bowmann. Trong một ngày đêm có gần 60 kg
    protein máu đi qua cầu thận nhưng chỉ thải ra ngoài 0,20g/ngày. Ngày nay, người ta đã xác định
    chắc chắn vai trò các điện tích (-) trong việc ngăn cản, đẩy tất cả những protein máu mang điện
    tích âm có từ 22Ao trở lên quay trở lại máu, không cho phép vượt qua màng nền vào khoang
    Bowmann. Trên thực nghiệm, khi tiêm puromycin cho động vật thực nghiệm sẽ làm mất điện
    thế (-) của màng nền cầu thận làm xuất hiện protein niệu. Hình ảnh mô bệnh học thận do
    puromycin tương tự như tổn thương mô bệnh học của hội chứng thận hư biến đổi tối thiểu.
    Người ta cho rằng chính các cytokin, interleukin đã triệt tiêu điện thế (-) màng nền cầu thận.1..3.2. Rối loạn huyết động:Tăng áp lực thủy tĩnh trong cuộn mạch cầu thận làm tăng tính thấm của màng nền cầu thận
    đối với protein máu, làm tăng protein niệu. Albumin có kích thước phân tử 36Ao dễ dàng vượt
    qua màng nền vào khoang Bowmann. Bệnh sinh của tăng áp lực thủy tĩnh là do hoạt động
    angiotensin tổ chức, làm co thắt động mạch đi hoặc do hoạt động cuả hệ thống giãn mạch làm
    tăng lượng máu đến cầu thận. Dựa trên cơ sở của giả thuyết này, người ta đã sử dụng thuốc ức
    chế men chuyển và thuốc chống viêm không steroid trong điều trị giảm protein niệu. Các thuốc
    ức chế men chuyên làm giãn động mạch đi, giảm áp lực lọc làm giảm protein niệu. Các thuốc
    không steroid ức chế tổng hợp prostaglandin giãn mạch làm giảm lượng máu đến cầu thận,
    giảm áp lực lọc, giảm protein niệu. Sự triệt tiêu mạng điện thế âm tính và tăng áp lực thủy tĩnh
    trong cuộn mạch cầu thận hình thành protein niệu chọn lọc.1.3.3. Biến đổi cấu trúc màng nền cầu thận:Sự biến đổi cấu trúc màng nền do tác động của các yếu tố viêm, sự tác động của phức hợp
    bổ thể C7, C8 và C9 ; sự hoạt động của đại thực bào, các tế bào Tc và NK tiết các cytokin gây độc
    đã biến đổi tính chất sinh học của màng nền cho phép protein có phân tử lượng lớn vượt
    qua màng lọc vào hệ thống dẫn niệu, tạo nên protein không chọn lọc.1.3.4. Tăng tính thấm màng nền do các yếu tố viêm:
    Hoạt động của cytokin, bradykinin, histamin, leucotrien, C3a và C5a có tác dụng tăng tính
    thấm màng nền.2. Paraprotein.2.1. Bence-Jones protein:Bence-Jones protein là chuỗi nhẹ globulin miễn dịch gặp ở bệnh huyết học ác tính, chủ yếu
    bệnh ác tính dòng tương bào (bệnh đa u tủy). Đặc điểm của Bence-Jones protein là sẽ đông vón
    ở nhiệt độ 60-70oC, tan ở nhiệt độ 100oC nên còn gọi protein niệu nhiệt tán. Bence-Jones
    protein có thể kết tủa trong lòng ống thận gây suy thận cấp tính. Thuốc cản quang đường tĩnh
    mạch có khả năng gây kết tủa Bence-Jones protein. Protein niệu nhiệt tán lắng đọng trong
    màng nền cầu thận và màng nền ống thận gây tổn thương ống thận, cầu thận dẫn đến suy thận
    mãn tính. Suy thận mãn tính là một trong những nguyên nhân tử vong của đa u tủy.2.2. Tamm -Horsfall protein:Tamm-Horsfall protein thực chất là những mucin do tế bào ống thận bài tiết, có tác dụng
    bảo vệ tế bào biểu mô tránh những tác động độc hại của nước tiểu. Tamm-Horsfall protein tăng
    bệnh lý ống kẽ thận và rất dễ đông vón khi tương tác với các thuốc cản quang đường tĩnh mạch
    làm tắc ống thận và dẫn đến suy thận cấp tính.
     
DMCA.com Protection Status