Mày đay: nốt sần, ban đỏ trên da. Phù mạch: giống mày đay nhưng có vùng sưng phủ rộng hơn liên quan cả da và cấu trúc dưới da. Triệu chứng: Mày đay: ngứa, xuất hiện vạt sần nhỏ bé, sưng lên. Vạt sưng trong, rõ ở trung tâm trông như những chiếc vòng ban đỏ lớn, xuất hiện ồ ạt rồi biến mất, có thể vài glờ, tái hiện nơi khác. Nếu tồn tại quá 24 giờ thì có khả năng viêm mạch. Phù mạch: một chỗ sưng mờ của mô nhão dưới da, như mu bàn tay, bàn chân, mi mắt, môi, bộ phận sinh dục, màng niêm dịch. Nêu phù phần trên khí đạo có thể gây suy hô hấp, tiếng thờ rít có thể nhầm với hen. Điều trị: Mày đay cấp tự nhiên hết sau 1-7 ngày. Nếu do dùng thuốc gì thì ngưng lại. uống diphenydramin 50-100 mg cách 4 giờ, hoặc hydroxyzirt 25-100 mg X 2 lần/ngày, hoặc cyproheptadin 4-8 mg cách 4 giờ. Aminazin 1 viên/lần X 2 lần/ngày cũng tốt. Nếu cần thiết, cần kết hợp kháng histamin H1 với kháng histamin H2 (cimetidin, cinnarizin). Có thể cần đến corticoid như prednisolon 30-40 mg/ngày nếu có phản ứng nặng cùng với phù mạch. Có thể, trước hết bằng epinephrin 1p 1000 tiêm 0,3ml dưới da trị phù mạch họng hay thanh quản cấp, sau đó dùng kháng histamin như trên. Phòng ngừa tắc nghẽn cần dùng ống hay mở khí quản thở oxy. Thuốc khác: promethazin, dimedrol, phenergan cũng có thể tác dụng tốt với mày đay. Mày đay mạn: Người bệnh tránh dùng aspirin, rượu, càphê, thuốc lá. Cũng dùng thuốc như trên, doxepin 25-50 mg X 2 lần/ngày hiệu quả tốt với một số bệnh nhân (thuốc phối hợp kháng H1 + H2). Nên dùng mọi biện pháp trước khi dùng glucocorticoid. Giải mẫn cảm: calci chlorid uống 3-6 g/ngày. uống hoặc tiêm Mg hyposulfid. Phù mạch coi là một cấp cứu, dùng các kháng histamin như trên và xử lý như một trường hợp sốc phản vệ. cần dùng epinephrin, hỗ trợ hô hấp, truyền dịch nếu cần thiết. Dự phòng : tránh tác nhân gây bệnh : hoá chất, thuốc như các enzym chuyển đổi (ACE), captopril, perindopril...