BỆNH NGHỀ NGHIỆP 1. Ðịnh nghĩa : Bệnh nghề nghiệp là một bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp tác động đối với người lao động. 2. Phân loại bệnh nghề nghiệp: theo 30 bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm Việt Nam. Nhóm I: Các bệnh bụi phổi và phế quản 1. Bệnh bụi phổi-silic 2. Bệnh bụi phổi-atbet hay bệnh bụi phổi-amiăng 3. Bệnh bụi phổi-bông 4. Bệnh viêm phế quản mạn tính nghề nghiệp 5. Bệnh hen PQ 6. Bệnh bụi phổi Talc 7. Bệnh bụi phổi than. Nhóm II: Các bệnh nhiễm độc nghề nghiệp 1. Bệnh nhiễm độc chì và các hợp chất chì 2. Bệnh nhiễm độc benzen và các hợp chất đồng đẳng của benzen 3. Bệnh nhiễm độc thuỷ ngân 4. Bệnh nhiễm độc mangan 5. Bệnh nhiễm độc TNT (Trinitrotoluen) 6. Bệnh nhiễm độc Asen và các hợp chất Asen nghề nghiệp 7. Bệnh nhiễm độc nicotin nghề nghiệp 8. Bệnh nhiễm độc hoá chất trừ sâu 9. Bệnh nhiễm độc CO 10. Bệnh nhiễm độc Cadimi Nhóm III: Các bệnh nghề nghiệp do yếu tố vật lý 1. Bệnh do quang tuyến X và các tia phóng xạ 2. Bệnh điếc do tiếng ồn (điếc nghề nghiệp) 3. Bệnh rung chuyển nghề nghiệp cục bộ 4. Bệnh giảm áp 5. Bệnh rung chuyển toàn thân Nhóm IV: Các bệnh da nghề nghiệp 1. Bệnh sạm da 2. Bệnh loét da, loét vách ngăn mũi, viêm da, chàm tiếp xúc (bệnh da nghề nghiệp do crôm) 3. Bệnh nốt dầu 4. Bệnh viêm loét da, viêm móng và quanh móng Nhóm V: Các bệnh nhiễm khuẩn nghề nghiệp 1. Bệnh lao nghề nghiệp 2. Bệnh viêm gan virut nghề nghiệp 3. Bệnh do leptospira nghề nghiệp (Leptospirosis) 4. Bệnh nhiễm HIV nghề nghiệp BỆNH NHIỄM ĐỘC CHÌ VÔ CƠ NGHỀ NGHIỆP (Lead inorganic poisoning – Intoxications par le Plomb inorganique) I. Đại cương Nhiễm độc chì được biết từ xa xưa do việc chì được sử dụng lâu đời qua các nền văn minh cổ. Hippocrate đã nêu lên những tác hại của chì. Paracelse đã mô tả những biến đổi thực thể do nhiễm độc chì. Năm 1717, Ramazzini đã kể chính xác những triệu chứng của bệnh nhiễm độc chì nhân một trường hợp đau bụng chì ở thợ sơn màu bằng oxyt chì. Ngày nay, nhiễm độc chì do dùng thuốc, thực phẩm (chì có trong thiếc hàn các vỏ đồ hộp) hoặc tự tử hiếm gặp, chủ yếu là nhiễm độc chì mạn tính nghề nghiệp xảy ra trong quá trình sản xuất. Theo Vigdochic (nhà bác học Nga) – có tới 360 nghề khác nhau dùng đến chì và các hợp chất chì. Chì và các hợp chất vô cơ của nó dưới dạng hơi, bụi xâm nhập vào cơ thể chủ yếu theo đường hô hấp, có thể theo đường tiêu hóa do ăn, uống phải bụi chì. Trong cơ thể, chì tích lũy ở nhiều cơ quan (gan, xương, hệ thần kinh…) khá bền vững và bài tiết ra khỏi cơ thể rất chậm. Hàng ngày hấp thụ 1mg chì (gấp 3 lần lượng chì vào cơ thể do ăn uống) sau nhiều ngày, có thể bị nhiễm độc mạn tính. Nếu hấp thụ 10mg chì, thì chỉ sau vài tuần là bị nhiễm độc nặng. Giới hạn bụi chì tối đa cho phép ở môi trường lao động là 0,00001mg/lít không khí. II. Triệu chứng A. Nhiễm độc cấp tính. 1. Rối loạn tiêu hóa: Bỏng thực quản, buồn nôn, nôn đau thượng vị, kèm theo ỉa chảy hoặc không. 2. Tình trạng toàn thân: Suy sụp nhanh chóng, trạng thái bồn chồn lo lắng, mạch nhỏ, chuột rút, co giật. 3. Dấu hiệu viêm thận hoặc viêm gan thận: đái ít, protein niệu, đạm huyết tăng, vàng da. Thường tử vong trước ngày thứ tư. Nếu khỏi thời gian phục hồi kéo dài. B. Nhiễm độc mạn tính 1. Các triệu chứng sớm khiến ta cảnh giác là: suy sụp thể lực, mệt mỏi, ít ngủ, nhức đầu, đau cơ xương, táo bón, không tiêu chảy, đau dạ dày, ăn kém ngon. 2. Các triệu chứng khách quan biểu hiện đa dạng, ở nhiều bộ phận: · Màu da tái xám, rõ nhất ở mặt (do sự co mạch), da lạnh. · Đường viền chì Burton ở lợi răng (chứng tỏ có sự hấp thụ nhiều chì). · Cơn đau bụng chì: đau đột ngột, dữ dội, nôn mửa, không sốt, táo bón, kèm theo mạch chậm, cứng, huyết áp tăng, bụng không co cứng, không có phản ứng, ấn mạnh vào bụng lại giảm đau. Cơn đau bụng chì làm một dấu hiệu chứng tỏ tình trạng nhiễm độc chì nặng. · Liệt chì: là liệt thần kinh quay ngoại biên, thể hiện ở các cơ duỗi ngón tay. Lúc đầu liệt tập trung ở ngón III-IV, sau lan ra các ngón khác, tạo thành “bàn tay rủ”. Liệt chì là liệt vận động, không mất cảm giác, chi dưới ít khi bị liệt. Có thể có tổn thương cơ mác, cơ duỗi chung và cơ duỗi ngón cái. Ngoài ra còn có thể thấy hội chứng viêm da dây thần kinh kết hợp rối loạn chức năng hệ thần kinh trung ương. · Tai biến não (bệnh não do chì): Là tổn thương thần kinh nặng, bệnh nhân nhức đầu dữ dội, đồng tử hai bên không đều, tăng độ run tay, có khi rung riêng một số nhóm cơ, liệt nhẹ nửa người, tăng động, đôi khi rối loạn ngôn ngữ, thất điều, đảo mắt… Trong một số trường hợp có thể rối loạn tuần hoàn não cấp tính kiểu cơn khủng hoảng não do mạch máu, xuất hiện cơn co giật, động kinh, hôn mê, mê sảng, kèm dấu hiệu màng não, dễ tử vong. · Viêm thận mạn: phát triển chậm, protein niệu tăng nhẹ, ure huyết tăng nhẹ (> 0,50 g/lít). Nước tiểu có hồng cầu, bạch cầu. · Huyết áp tăng: lúc đầu tăng huyết áp đơn thuần, tạm thời, sau đó trở thành vĩnh viễn, phối hợp với viêm thận và gây tai biến: xuất huyết, tim to, suy tim. · Thấp khớp do chì: đau các khớp lan tỏa, từng cơn. Đau cơ xung quanh các khớp, khớp không sưng, không đỏ. 3. Cận lâm sàng: Hội chứng huyết học là biểu hiện sớm của nhiễm độc chì. Máu ngoại vi tăng số lượng hồng cầu lưới (20-40% hoặc hơn), xuất hiện hồng cầu mang các hạt ưa kiềm (30-40 cái và hơn nữa so với 10.000 hồng cầu). Tùy theo sự tiến triển của nhiễm độc sẽ phát sinh thiếu máu nhược sắc và chứng hồng cầu không đều. Tỷ lệ huyết sắc tố giảm. Sự rối loạn quá trình tạo huyết sắc tố và chuyển hóa porphyrin đóng vai trò chủ yếu trong sự phát sinh nhiễm độc chì. III. Tiêu chuẩn chẩn đoán 1. Đối tượng chẩn đoán Mọi người lao động trong quá trình làm việc có tiếp xúc bắt buộc với môi trường có hơi, bụi chì ở nồng độ cao hơn giới hạn tối đa cho phép (0,00001 mg/lít). 2. Tiêu chuẩn chẩn đoán 2.1. Cận lâm sàng · Định lượng ΔALA niệu (axit delta aminolévulinic): trị số ΔALA niệu ≥ 10 mg/lít (kỹ thuật xem phụ lục 3). · Đếm số lượng hồng cầu hạt kiềm so sánh với 10.000 hồng cầu: ≥ 10 hồng cầu hạt kiềm (kỹ thuật xem phụ lục 1). · Trị số huyết sắc tố trong 100 ml máu: ≤ 11 gam. (kỹ thuật xem phụ lục 2). 2.2. Lâm sàng · Hội chứng thiếu máu. · Hội chứng đau bụng chì. · Đường viền Burton. · Liệt cơ duỗi ngón tay, cơ nhỏ bàn tay. · Bệnh não do chì. · Viêm thận tăng urê huyết hay tăng huyết áp. · Hội chứng viêm đa khớp, đa dây thần kinh do chì. V. Điều trị và dự phòng 1. Điều trị 1.1. Nhiễm độc chì cấp tính: Rửa dạ dày, tiêm EDTA-CaNa2. Chống choáng (truyền dịch). 1.2. Nhiễm độc chì mạn tính có triệu chứng lâm sàng và kết quả nghiệm pháp tăng chì niệu > 1000 μgPb/lít nước tiểu/24 giờ. · Ngừng tiếp xúc với chì. · Tiêm truyền EDTA-CaNa2 chậm, tĩnh mạch, liều lượng 20mg/kg thể trọng (hòa trong 200-300ml huyết thanh ngọt đẳng trương). · Các thuốc bổ máu, viên sắt. 1.3. Thấm nhiễm chì: chưa có triệu chứng lâm sàng, nhưng lượng ΔALA niệu ≥ 10mg/lít. · Ngừng tiếp xúc với chì. Có thể cơ thể tự thải trong thời gian ngừng tiếp xúc. · Sau 20 ngày, nếu lượng ΔALA niệu không trở về mức bình thường, cho uống éthambutol viên nén 0,40g, liều 20mg/kg cơ thể/ngày. Tuyệt đối không dùng EDTA uống dưới bất kỳ dạng nào. 1.4. Điều trị triệu chứng: Đau bụng chì-tăng huyết áp-tai biến não-liệt thần kinh ngoại biên 1.4.1. Cơn đau bụng chì: dùng các thuốc chống co thắt, an thần (clopromazin). Có thề dùng prednisolon 20-30mg/ngày. 1.4.2. Tăng huyết áp: dùng các thuôc giảm huyết áp, an thần. 1.4.3. Tai biến não do chì: dung barbituric, chống tăng áp lực nội sọ bằng huyết thanh ngọt ưu trương. 1.4.4. Liệt thần kinh ngoại biên do chì: tiêm strychnin liều tăng dần, kèm vitamin B1, B6, vitamin C. Kết hợp châm cứu, vật lý trị liệu. 2. Dự phòng 2.1. Biện pháp kỹ thuật · Thay thế chì bằng những chất khác không độc, ví dụ thay các màu có chì bằng các chất màu không có chì. · Công việc có bụi chì phải làm trong những máy kín, sử dụng phương pháp ẩm. Đồng thời phải có hệ thống hút bụi chung. · Bàn làm việc, tường nhà, nền nhà phải không thấm nước, hơi nghiêng, và phải lau rửa, quét dọn (hút bụi) hàng ngày. 2.2. Biện pháp y tế · Khám tuyển chu đáo, tỷ mỉ. Không nhận những người có bệnh lao phổi, viêm thận, thiếu máu, đau gan, tim, dạ dày, thần kinh. · Khám định kỳ ít nhất mỗi năm 1 lần, phải thử máu và xét nghiệm ΔALA niệu. · Phải định kỳ giám sát nồng độ chi trong không khí nơi làm việc, không cho vượt ngưỡng 0,1 mg/m3. 2.3. Biện pháp cá nhân · Công nhân không được ăn uống, hút thuốc ở nơi làm việc với chì, không được mang quần áo bảo hộ về nhà. · Phải có tủ đựng quần áo thường mặc và quần áo trang bị bảo hộ lao động, 2 nơi cách nhau bởi phòng tắm và nơi rửa tay. · Bắt buộc phải thay quần áo khi vào làm việc và tắm rửa thay quần áo trước khi về. · Công nhân được cung cấp bàn chải, xà phòng để chải rửa tay. · Giáo dục cho công nhân ý thức tự giữ gìn vệ sinh, đặc biệt vệ sinh răng miệng (đánh răng 2 lần/ngày, súc miệng nhiều lần) và luôn luôn mang đầy đủ các trang bị phòng hộ khi làm việc. BỤI VÀ CÁC BỆNH PHỔI DO BỤI khái niệm, nguồn gốc, các nghề hoặc công việc có nguy cơ tiếp xúc và tác hại của bụi? I. Bụi trong sản xuất · Bụi là những phần tử nhỏ bé, đa số ở thể rắn tập hợp rải rác trong môi trường, là tác hại phổ biến nhất trong các tác hại nghề nghiệp của môi trường không những bởi tính độc hại của nó mà còn do chúng rất phổ biến, có mặt ở mọi nơi, mọi chỗ trong môi trường lao động, môi trường sống. · Do đặc điểm của hoạt động lao động và sinh hoạt cũng như các tác động nên bụi sinh ra có nhiều trạng thái và kích thước khác nhau. Tác hại của bụi phụ thuộc vào bản chất lý hóa của nó song trạng thái và kích thước cũng đóng vai trò quan trọng do nó tạo điều kiện cho bụi tồn tại lâu hay chóng trong môi trường rồi từ đó khuếch tán vào phổi gây bệnh. Hiện nay các ngành công nghiệp hầm mỏ, luyện kim, sản xuất vật liệu xây dựng và may mặc là những ngành công nhiên có nhiều người lao động chịu tác động của bụi với các mức độ khác nhau như viêm nhiễm, co thắt hoặc xơ hóa các tế bào nhu mô phổi... · Đối với từng loại bụi khác nhau chúng thường gây nên các tác hại đặc trưng song do phát triển công nghiệp với trình độ cao nên các loại bụi hỗn hợp được tạo ra nhiều, hình thái bệnh lý cũng phức tạp lên rất nhiều vì sự tác động tổng hợp của chúng. · Các loại bụi phân tán vào môi trường không khí theo quy luật khác nhau (Brown, Stokes...) và cũng phụ thuộc vào cấu trúc nhà xưởng, nơi làm việc và biến đổi của vi khí hậu môi trường. · Các loại bụi phân tán trong không khí do sản xuất gây nên có hạt nhỏ, đặc hay lỏng sẽ lơ lửng trong không khí. Nếu ở thể đặc, khí dung gọi là bụi, nếu ở thể lỏng gọi là sương mù. II. Có 3 nguyên nhân sinh ra bụi: 1. Nghiền, cán, màu đánh bóng các chất đặc, các vật cứng (đá, sắt thép...). 2. Các chất nổ và không cháy. 3. Các chất ở dạng hơi bốc lên dày đặc trong không khí, bị ôxy hóa hoặc sinh ra phản ứng hóa học với nhau. - Ngoài ra khi vận chuyển, lựa chọn, đóng gói, pha trộn các chất, thì khí dung loãng có thể biến thành khí dung đặc. III. Tác hại chung của các loại bụi Trong sản xuất tác hại của bụi đối với cơ thể không giống nhau bao gồm các tác hại sau: - Gây độc toàn thân: bụi chì, mangan, asen, Clo, Flo, ôxit kẽm. - Gây kích thích cục bộ, tổn thương ở da và niêm mạc. Ngoài các chất trên còn có xi măng, calci ô xít, clorua vôi, bụi thuốc lá... - Gây phản ứng dị ứng: bụi đay, bột sơn, phấn hoa... - Gây tác dụng quang lực học: bụi hắc ín. - Gây nhiễm khuẩn: bụi giẻ rách, lông súc vật, thóc lúa... - Gây ung thư: bụi của một số chất quang học và chất cơ năng phóng xạ. - Gây tác dụng đặc biệt trên cơ quan hô hấp có 6 loại: + Gây viêm nhiễm đường hô hấp, thậm chí viêm phổi nói chung với tỷ lệ cao đối với người tiếp xúc. + Tác dụng với đường hô hấp trên: các loại bụi sợi, bụi động vật và thực vật thường kích thích, gây bệnh mũi họng... + Gây tăng số lượng đại thực bào từ máu đến phổi, nhưng không rõ rệt: bụi than, bụi ôxit sắt (thường không mấy khi gây tàn phế bộ máy hô hấp). + Có tác dụng làm cho xơ hóa, tăng thực rõ rệt, gây bệnh phổi mạn tính nặng: bụi silic (SiO2) và bụi amiăng... + Làm giảm tính chất miễn dịch của tổ chức phổi: bụi xỉ lò Thomas, bụi nhựa đường... + Gây ung thư phế quản và ung thư phổi: như crom và hợp chất hóa học của a sen, các carbuahydro... Các yếu tố nguy cơ phổ biến tại nơi làm việc. 3. Bụi 3.1. Khái niệm: Bụi bao gồm các hạt rắn, nhỏ có kích thước dưới 100 µm, trong đó đáng lưu ý là bụi hô hấp có kích thước dưới 5 micromét gây ra các bệnh bụi phổi nghề nghiệp. 3.2. Nguồn gốc: - Bụi khoáng: bụi chứa Silic tự do (thạch anh), bụi than, ximăng. - Bụi kim loại: bụi chì, Cadmium, Nikel, Beryllium. - Bụi hoá chất khác: rất nhiều hỗn hợp hoá chất và thuốc trừ sâu. - Bụi thực vật và hữu cơ: bột gạo, gỗ, bông, len, chè. - Bụi sinh học: các vi sinh vật, nấm, mốc, bào tử. 3.3. Các nghề hoặc công việc có nguy cơ tiếp xúc: 3.4 Tác hại của bụi : a) Các bệnh đường hô hấp : - Các bệnh bụi phổi: bệnh bụi phổi-silic, bụi phổi-bông, bụi phổi-amiăng.... - Ung thư: do Asen và hợp chất của Asen, Cromat, chất phóng xạ, các sợi amiang.... - Bệnh nhiễm độc hệ thống: Mangan, chì, Cadmium và các hợp chất. - Dị ứng và những đáp ứng nhậy cảm khác: Nhiều bụi thực vật như bụi bã mía, bông, bột gạo, đay, rơm, chè, thuốc lá, gỗ là những chất có thể gây dị ứng do hít phải, có thể gây hen, sốt rơm hoặc ban mày đay. Ngoài ra một số loại bụi có thể gây nhiễm khuẩn: Các hạt chứa nấm, virut hoặc các mầm bệnh vi khuẩn. b) Những tác hại ngoài đường hô hấp : - Những tổn thương ở da và niêm mạc : + Bệnh viêm da, niêm mạc. + Dị ứng. + Ung thư. - Sự mòn răng: Sương mù axit sulfuric có thể gây mòn răng. - Những hậu quả sau khi vào qua da, dạ dày-ruột : + Nhiễm độc. + Ung thư. 4. Hoá chất 4.1 Khái niệm nguy cơ tiếp xúc với hoá chất tại nơi làm việc Khả năng gây ra nguy hiểm cho sức khoẻ, sự sống khi tiếp xúc với hoá chất tại nơi làm việc. 4.2 Nguồn gây ra - Các kim loại độc như: kẽm, đồng, chì, asen, selen... phát sinh từ quá trình nấu, luyện, đúc kim loại. - Các dung môi hữu cơ phát sinh từ các cơ sở in, sản xuất và sử dụng sơn, sản xuất giầy dép... - Hoá chất trừ sâu diệt cỏ phát sinh từ các cơ sở đóng chai, bao gói sản phẩm hoá chất trừ sâu. 4.3 Nguy cơ tiếp xúc và ảnh hưởng đến sức khoẻ: a) Hoá chất thâm nhập vào cơ thể theo 3 đường chính : - Ðường hô hấp là đường vào quan trọng nhất trong tiếp xúc nghề nghiệp. - Hấp thụ qua da khi tiếp xúc trực tiếp với hoá chất. - Ðường tiêu hoá do ăn hoặc uống phải khi thiếu vệ sinh. b) Ảnh hưởng của hoá chất đến sức khoẻ: - Tác hại lên da và niêm mạc: các tác hại này chiếm 90% ví dụ như chàm kích thích, chàm tiếp xúc dị ứng - Tác hại lên đường hô hấp gây nhiễm độc cấp tính có thể gây tử vong, gây các bệnh về phổi, phế quản như viêm phế quản mãn tính, viêm phế quản xuất tiết, khí phế thũng, viêm thuỳ phổi. - Gây ảnh hưởng toàn thân: ảnh hưởng đến cơ quan tạo máu, cơ quan tiêu hoá, tiết niệu và một số hoá chất có khả năng gây đột biến gen, ung thư như asen, crôm, dioxin và kim loại nặng. Hoạt động nghề nghiệp hiếm khi giới hạn ở sự tiếp xúc với một hoá chất riêng lẻ. Hầu như cùng một lúc công nhân phải tiếp xúc với nhiều hoá chất khác nhau kết hợp với các yếu tố môi trường khác (nhiệt độ cao-thấp, tiếng ồn,...). Sự kết hợp của hai hoặc nhiều hoá chất bởi phản ứng hoá học hoặc hấp thu vào cơ thể tạo ra một chất mới với những đặc tính khác hẳn có thể có hại tới sức khoẻ hơn những hoá chất tác động riêng lẻ. Vì thế, nên phòng tránh và giảm tới mức thấp nhất sự tiếp xúc phức tạp. 4.4. Yếu tố sinh học - Không khí, đất, nước và thực phẩm là những yếu tố của môi trường. Chúng bao quanh ta ở mọi nơi, trong mọi lúc, nghỉ ngơi cũng như lao động. Chúng không thể thiếu đối với sự sống. - Mỗi yếu tố của môi trường luôn chứa vô vàn các vi sinh vật. Nhưng môi trường hợp vệ sinh, các vi sinh vật này vô hại. - Khi bị ô nhiễm bởi các vi sinh vật gây bệnh, môi trường trở thành các phương tiện (đường) truyền nhiễm, lây lan các bệnh nhiễm trùng nguy hiểm như: tả, lỵ, thương hàn, viêm phổi, viêm gan, viêm não... + Không khí truyền bệnh qua đường hô hấp, qua da, niêm mạc. + Nước, hơi nước truyền bệnh qua đường tiêu hoá là chính, cũng có thể qua đường hô hấp, qua da và niêm mạc. + Ðất, bụi đất truyền bệnh qua đường da, niêm mạc, cũng có thể qua đường hô hấp, và cả đường tiêu hoá. - Nguồn sinh ra các vi sinh vật gây bệnh trong môi trường có thể từ các chất thải tiết như đờm rãi, phân, nước tiểu...của người ốm hoặc người khoẻ mang mầm bệnh; có thể từ súc vật như chó, mèo, chuột, bọ...thậm trí từ các chế phẩm của chúng như thịt tươi, da, lông thú... - Người khi tiếp xúc với môi trường bị ô nhiễm có thể bị bệnh : + Trực tiếp từ người tới người, một cách ngẫu nhiên như bệnh cúm, lao, dịch hạch, bạch hầu...khi ngồi đối diện, do hít phải nước bọt người mang mầm bệnh bắn vào không khí... + Gián tiếp qua bụi khi nước bọt khô đi... + Hoặc do nghề nghiệp buộc phải tiếp xúc: cán bộ y tế với các bệnh lây lan, truyền nhiễm; các công nhân nông trại, công nhân cống rãnh dễ mắc các bệnh nhiễm trùng truyền từ súc vật sang người... CHẨN ĐOÁN ĐIẾC NGHỀ NGHIỆP Để chẩn đoán xác định điếc nghề nghiệp cần dựa trên 3 cơ sở: - Tính chất nghề nghiệp: rất quan trọng, cần phải hỏi, điều tra đầy đủ và lập hồ sơ rõ ràng chi tiết về cường độ và thời gian tiếp xúc với tiếng ồn. Trước hết người công nhân phải làm việc ở môi trường có tiếng ồn caohơn ngưởng gây hại (theo vị trí lao động của người đó). Thời gian làm việc ở môi trường ồn phải được ghi lại đầy đủ, kể cả các nghề cũ có tiếng ồn, vì thời gian tiếp xúc càng lớn, khả năng bị bệnh càng nhiều và nếu đã bị từ nghề trước thì hiện nay vẫn không thay đổi. - Khám lâm sàng: cần khám về tai mũi họng đầy đủ để chứng tỏ không có tổn thương gì về màng tai, tai giữa và xương chũm, cũng như không có tổn thương ở tiền đình vì điếc nghề nghiệp chỉ gây nên các tổn thương ở loa đạo của tai trong. - Đo thính lực: phải thể hiện một điếc tiếp âm, đối xứng hai tai, ở từng tần số chênh lệch giữa hai tai không quá 10 dB; tuỳ theo mức độ nặng hay nhẹ sẽ có thể loa đạo đáy hay thể toàn loa đạo có hiện tượng Recuiment hay không. Sau một thời gian thính lực đồ phải không khá lên ngay cả khi nghỉ ngơi không tiếp xúc với tiếng ồn. Nguyên tắc chung về xử trí, dự phòng nhiễm độc nhiễm độc hóa chất trong sản xuất 1. Tại cơ sở 1.1. Tổ chức Trong các cơ sở có sử dụng hóa chất phải tổ chức phòng cấp cứu có đủ các loại thuốc cấp cứu thông thường, máy hô hấp nhân tạo. Đồng thời phải tổ chức huấn luyện cho cán bộ chuyên môn, đồng thời hướng dẫn cách cấp cứu để họ có thể xử trí sơ bộ khi xảy ra nhiễm độc. 1.2. Ngăn không cho chất độc xâm nhập. - Nếu chất độc vào bằng đường hô hấp đưa ngay nạn nhân ra khỏi nơi bị nhiễm độc, cho ra chỗ thoáng khí, nới bỏ quần áo để tránh ảnh hưởng đến đường hô hấp - Nếu chất độc vào bằng đường da, niêm mạc: rửa kỹ bằng nước lạnh, xà phòng. - Nếu chất độc vào bằng đường tiêu hóa: rửa dạ dày càng sớm càng tốt, nước rửa nên cho thêm chất có tính hấp thụ (than hoạt), chất giảm độc (lòng trắng trứng, tanin, bicarbonat v.v...). - Nếu không có phương tiện rửa thì gây nôn bằng kích thích cơ giới hoặc apomorphin (0,5% 1 m dưới da). Chống chỉ định khi có rối loạn hô hấp tuần hoàn. 1.3. Nhanh chóng đào thải chất độc ra khỏi cơ thể. Đa số các chất độc thải qua thận nên cho nạn nhân uống nhiều nước, truyền dịch đẳng trương hoặc dùng thuốc lợi niệu. 1.4. Chuyển bệnh nhân lên tuyến trên có điều kiện hồi sức cấp cứu. 1.4.1. Tại tuyến trên Điều trị triệu chứng - Khi có rối loạn hô hấp: đặt ống thông khí quản, hút đờm dãi. Nếu ngừng thở phải dùng hô hấp nhân tạo. - Nếu có phù phổi cấp dùng các thuốc phong bế hạch, khi cần chích máu tĩnh mạch 200 - 300 ml. - Nếu thiếu oxy cho thở oxy hoặc khí carbogen. - Rối loạn tim mạch cho thuốc trợ tim. - Có thể dùng thuốc an thần, thuốc chống co giật và giảm đau nếu cần. 1.4.2. Thuốc chống độc đặc hiệu Khái niệm thuốc chống độc đặc hiệu (Antidote) phải được hiểu là những chất can thiệp trực tiếp vào quá trình tương tác giữa chất độc với vị trí tấn công đặc hiệu. Những loại thuốc chống độc có thể tác dụng theo 3 cơ chế sau: - Thuốc chống độc kết hợp với chất độc: khi chất độc liên kết với vị trí đặc hiệu, thuốc phản ứng với chất độc và tạo thành một phức hợp mới, giải phóng thụ thể trở lại trạng thái ban đầu. Sau đó, phức hợp thuốc - chất độc sẽ được thải trừ ra khỏi cơ thể. - Thuốc kết hợp với thụ thể: tương tự như chất độc, thuốc cũng có khả năng kết hợp đặc hiệu với thụ thể, cạnh tranh với chất độc và do đó ngăn cản tác dụng của chất độc. - Thuốc làm thay đổi những điều kiện xung quanh thụ thể hoặc gây ra những biến đổi cấu trúc đặc hiệu làm cho chất độc mất khả năng liên kết với vị trí tấn công đặc hiệu. VẤN ĐỂ TƯ THẾ VÀ ĐIỀU KIỆN LAO ĐỘNG HỢP LÝ (Lao động học - ergonomie) 1.Khái niệm Ergonomie (Lao động học) là khoa học nghiên cứu về lao động và sự phù hợp với sức khỏe người lao động. Như vậy mỗi loại hình lao động cần có một sự phù hợp tương ứng về sức khỏe con người (cả về mặt thể chất lẫn tinh thần). Những lao động giản đơn yêu cầu đáp ứng của cơ thể không phức tạp song khoa học kỹ thuật phát triển, lao động càng phức tạp càng cần có những nghiên cứu về sức khỏe tốt hơn, tiến bộ hơn để có thể theo kịp với lao động mới. Lao động càng có kết quả khi nó đáp ứng tốt cho con người. Lao động không làm tổn hại sức khỏe mà làm cho sức khỏe người lao động tốt hơn 2. Những nguyên tắc chủ yếu của Ergonomie Với mục tiêu là nâng cao năng suất lao động và phòng chống mệt mỏi Ginbrest đưa ra 7 nguyên tắc sau: 1) Sự vận động của bàn tay và cánh tay cần được tiến hành cân xứng và đều đặn. 2) Các vận động cần được tiến hành theo cách dễ dàng nhất, tiết kiệm nhất, trong mức độ cho phép, tránh động tác thừa và cần thiết phải tránh hết sức, nằm trong phạm vi có thể được những thay đổi đột ngột, mạnh và những khởi động lặp đi lặp lại một chiều. 3) Sự vận động liên tục và hợp lý: Cố gắng tạo ra định hình hoạt động (Stereotype). 4) Chỗ đặt dụng cụ, phương tiện. Đối tượng lao động cần phải được cố định và thích hợp, trật tự khoa học trong sản xuất. 5) Sử dụng trọng lực phù hợp sẽ bớt tiêu hao năng lượng. Chống nâng lên hạ xuống một cách thái quá. 6) Các bộ phận sản xuất ít nhất phải sản xuất 2 cái 1 lần, trong kỹ thuật gọi là nguyên tắc nhóm để tránh đơn điệu. 7) An toàn lao động là điểm cơ bản của tiêu chuẩn hóa lao động, đơn giản hóa lao động. 3. Giảm nhẹ gánh nặng thể lực bằng biện pháp lao động học Có nhiều biện pháp lao động học có thể làm giảm nhẹ gánh nặng lao động thể lực của người lao động. - Sự phù hợp với vị trí lao động Các vị trí lao động của một cá thể hay một tập thể người lao động cần đạt được sự thuận lợi cho công việc đồng thời phải phù hợp với tâm sinh lý, giải phẫu của nhóm người lao động đó, ví dụ: thoáng đãng, không cao hoặc thấp quá so với chiều cao của công nhân, vừa tầm nhìn, tầm tay của công nhân. Các máy móc dụng cụ cũng phải phù hợp với con người cả về mặt sinh học cũng như xã hội học. - Sự hợp lý hóa các thao tác lao động Sự hợp lý hóa là không có động tác thừa, các động tác thoải mái theo hoạt động thường nhật, tự nhiên của cơ thể. - Sự hợp lý hóa công cụ lao động Các công cụ lao động dễ cầm, nắm và sử dụng. Công cụ vừa tốt lại phải vừa sức của người lao động. - Quy định gánh nặng cho phép Điều này rất cần thiết vì nó sẽ giới hạn phù hợp với tiêu hao năng lượng có thể chịu được của người lao động. Nếu tiêu hao năng lượng nhiều thì phải chọn đối tượng đủ sức khỏe đáp ứng còn đa số mọi người chỉ chịu được lâu dài khi lao động tiêu hao khoảng dưới 3000kcal.