Dị ứng là một thuật ngữ, chỉ một phản ứng khác thường của một cá thể khi tiếp xúc với một dị nguyên (chất lạ) lần thứ 2 hoặc những lần sau đó. Có 2 nhóm dị nguyên: ngoại sinh (từ bên ngoài lọt vào, không nhiễm khuẩn và nhiễm khuẩn) và nội sinh (hình thành ngay trong cơ thể, còn gọi là tự dị nguyên). Các dị nguyên thường là: Các hoá chất (dược phẩm, thuốc nhuộm, mỹ phẩm...), cây và hoa, bụi, mủi, khí, biểu bì, động vật, vảy da, lông súc vật, vi khuẩn, nấm, virus, ánh sáng v.v... Với tự dị nguyên là những protein lạ hình thành ngay trong cơ thể do tác động của những phản ứng lý hoá nội sinh cộng với các yếu tố và điều kiện nhiệt độ, áp suất, acid, base, phóng xạ, độc tố, vi sinh vật. Triệu chứng: Biểu hiện trên 4 týp: + Tức thì (týp I): Từ một vài giây đến 3-4 giờ. Được chia ra tối cấp, cấp và bán cấp, thường gọi là sốc (choáng) phản vệ (Trong huyết thanh có kháng thể dị ứhg IgE, IgG). Là một tình trạng nhiễm độc histamin, làm giãn các tiểu động mạch - mao mạch, tăng tính thẩm thấu mạch, làm giảm đột ngột khối lượng máu gọi là chảy máu nặng trong chính mạch máu của mình. Nôn nao, khó chịu, tím tái, thở nhanh nông, vã mồ hôi, không lấy được mạch - huyết áp (truy mạch). + Độc tế bào (týp II): Tan máu, giảm bạch cầu, chảy máu do giảm tiểu cầu. + Dị ứng muộn (týp III): Từ 5-6 giờ đến 72 giờ và nhiều ngày, sốt, đau khớp, hạch ở cổ nách bẹn, ban đỏ, ngứa, buồn nôn, nôn, rối loạn tiêu hoá, đau bụng, nhức đầu, khó thở, phù phổi, tràn dịch màng phổi, đái ra protein, viêm mũi, polip mũi, hen, phù Quíncke, co thát, tụt huyet áp, viêm cầu thận, ban xuất huyết v.v... + Dị ứng chậm (týp IV): Chàm, do tiếp xúc, do ánh sáng, một số hoá chất - thuốc. Điều tri: Các xét nghiệm và cận lâm sàng. Nhằm vô hiệu hoá các hoạt chất trung gian: histamin, serotonin, bradykinin, acetylcholin. sử lý các rối loạn chức năng tổn thương, triệu chứng dị ứng bằng các thuốc kháng histamin (AH,), thuốc cường giao cảm, corticoid, thuốc ức chế miễn dịch. Nhẹ như mày đay, mẩn ngứa: Nghỉ ngơi, khuyên yên tâm, không cần dùng thuốc vì có thể gây tác dụng giao thoa. Nặng hơn: là một trường hợp cấp cứu, phù Quincke, phù thanh quản, đau bụng, buồn nôn, nôn, ỉa chảy dùng: Phenergan 3% uống 10 ml/lần X 2 lần/ngày hoặc dimerol viên 50 mg, uống 1-2 viên/lần X 2 lần/ngày X 2-3 ngày. Hoặc uống phenergan cùng với hydroxyzin 75 mg/24 giờ và prednisolon 25 mg/24 giờ X 2-3 ngày. Dùng diazepam 5 mg trước khi đi ngủ. uống nhiều nước. Nặng hơn nữa: Ban đỏ cả người, trợt da, lở loét niêm mạc (mũi, miệng, hậu môn, â m đ ạ o...), hội chứng Stevens-Johnson hoặc Lyell: depersolon 30 mg X 1-2 ống/ngày tiêm bắp thịt, dimedrol 50 mg X 2 ống/ngày tiêm bắp thịt. Chú ỷ chăm sóc tránh bội nhiễm, biến chứng nội tạng. Có thể dùng kem corticoid (ví dụ cortibion) bôi lở loét ngoài da. Do thoát huyết tương có thể mất nước cần cân bằng nước - điện giải 1-2 lít/ngày. Theo dõi chặt chẽ 24 giờ đầu dè chừng chuyển sang sốc phản vệ. Sốc phản vệ (Xem thêm mục 3 - phàn vệ): Một ca cấp cứu rất khẩn trương tại chỗ, nếu không người bệnh có thể chết sau vài phút. Thường hay gặp với thuốc tiêm penicillin, streptomycin, tetracyclin, morphin, novocain, huyết thanh, vaccin. Để cấp cứu phản vệ cần chuẩn bị sẵn: adrenalin 1mg hoặc 0,25 mg tiêm, depersolon 30 mg tiêm, pipolphen 0,05 g tiêm, bơm kim tiêm, bông cồn. Thấy người bệnh nôn nao, khó chịu tiêm ngay 0,25-1 mg adrenalin dưới da; nếu mất mạch, tái nhợt, mất huyết áp dung ngay bơm tiêm vừa tiêm adrenalin dưới da xong tiêm vào mạch rút ra 5ml máu rôi bơm lại vào tĩnh mạch. Sau 10-15 phút vẫn chưa có mạch lại tiêm 1 ống adrenalin 1 mg dưới da. Sau 10-15 phút vẫn không tiến triển tiêm 100 mg hydrocortison hemisuccinat (hoặc depersolon 2 ống) vào tĩnh mạch (truy mạch thì tiêm bắp). Truyền huyết thanh 500 ml + 2 ống depersolon, có thế tới 120 mg/4 giờ đầu, 8 ống/24 glờ. Sau cùng giải quyết các triệu chứng khác bằng kháng histamin (AH,): pipolphen 0,05 g X 2 ml vào bắp thịt (Theo BKTBH 2000). Hầu hết các thuốc đều gày dị ứng với các týp khác nhau, tuỳ thuộc vào sự nhạy cám của từng cá thể: sultamid, thuốc an thần kinh, thuốc hạ nhiệt giảm đau chống viêm (AINS), vitamin cũng gây nhiều dị ứng nghiêm trọng (aspirin gây hen, polip mũi; kháng sinh, AINS gây hội chứng Stevens-Johnson hoặc Lyell...). Vì vậy một trong những việc cần làm trước khi dùng thuốc là cần hỏi kỹ bệnh sử cá nhản, gia đình, hướng dẫn cúa thầy thuốc, tham khảo các lưu ỷ sử dụng thuốc (Thuốc biệt dược vả cách sử dụng). Dự phòng: Tránh các dị nguyên đã biết hoặc có thể gây ra. Nếu buộc phải dùng cần có hướng dẫn của thầy thuốc (ví dụ insulin). Hỏi kỹ tiền sử bệnh trước khi cho thuốc. Phải có đủ phương tiện cấp cứu. Nếu cần, phải dùng thuốc phòng ngừa trong gây mê - xét nghiệm thăm dò. Các thuốc kháng histamin (AH,) khác thường dùng: alimemazin, antazolin, astemizol, bromphenoxamm, budizin, carbinoxamin, cetirizin, clemastin, cromoglycat Na, dexchlorpheniramin, ketotiten, oxomemazin.