Chẩn đoán điếc nghề nghiệp Để chẩn đoán xác định điếc nghề nghiệp cần dựa trên 3 cơ sở: - Tính chất nghề nghiệp: rất quan trọng, cần phải hỏi, điều tra đầy đủ và lập hồ sơ rõ ràng chi tiết về cường độ và thời gian tiếp xúc với tiếng ồn. - Trước hết người công nhân phải làm việc ở môi trường có tiếng ồn caohơn ngưởng gây hại (theo vị trí lao động của người đó). Thời gian làm việc ở môi trường ồn phải được ghi lại đầy đủ, kể cả các nghề cũ có tiếng ồn, vì thời gian tiếp xúc càng lớn, khả năng bị bệnh càng nhiều và nếu đã bị từ nghề trước thì hiện nay vẫn không thay đổi. - Khám lâm sàng: cần khám về tai mũi họng đầy đủ để chứng tỏ không có tổn thương gì về màng tai, tai giữa và xương chũm, cũng như không có tổn thương ở tiền đình vì điếc nghề nghiệp chỉ gây nên các tổn thương ở loa đạo của tai trong. - Đo thính lực: phải thể hiện một điếc tiếp âm, đối xứng hai tai, ở từng tần số chênh lệch giữa hai tai không quá 10 dB; tuỳ theo mức độ nặng hay nhẹ sẽ có thể loa đạo đáy hay thể toàn loa đạo có hiện tượng Recuiment hay không. Sau một thời gian thính lực đồ phải không khá lên ngay cả khi nghỉ ngơi không tiếp xúc với tiếng ồn. Nguyên tắc chung về xử trí, dự phòng nhiễm độc nhiễm độc hóa chất trong sản xuất 1. Tại cơ sở 1.1. Tổ chức Trong các cơ sở có sử dụng hóa chất phải tổ chức phòng cấp cứu có đủ các loại thuốc cấp cứu thông thường, máy hô hấp nhân tạo. Đồng thời phải tổ chức huấn luyện cho cán bộ chuyên môn, đồng thời hướng dẫn cách cấp cứu để họ có thể xử trí sơ bộ khi xảy ra nhiễm độc. 1.2. Ngăn không cho chất độc xâm nhập. - Nếu chất độc vào bằng đường hô hấp đưa ngay nạn nhân ra khỏi nơi bị nhiễm độc, cho ra chỗ thoáng khí, nới bỏ quần áo để tránh ảnh hưởng đến đường hô hấp - Nếu chất độc vào bằng đường da, niêm mạc: rửa kỹ bằng nước lạnh, xà phòng. - Nếu chất độc vào bằng đường tiêu hóa: rửa dạ dày càng sớm càng tốt, nước rửa nên cho thêm chất có tính hấp thụ (than hoạt), chất giảm độc (lòng trắng trứng, tanin, bicarbonat v.v...). - Nếu không có phương tiện rửa thì gây nôn bằng kích thích cơ giới hoặc apomorphin (0,5% 1 m dưới da). Chống chỉ định khi có rối loạn hô hấp tuần hoàn. 1.3. Nhanh chóng đào thải chất độc ra khỏi cơ thể. Đa số các chất độc thải qua thận nên cho nạn nhân uống nhiều nước, truyền dịch đẳng trương hoặc dùng thuốc lợi niệu. 1.4. Chuyển bệnh nhân lên tuyến trên có điều kiện hồi sức cấp cứu. 1.4.1. Tại tuyến trên Điều trị triệu chứng - Khi có rối loạn hô hấp: đặt ống thông khí quản, hút đờm dãi. Nếu ngừng thở phải dùng hô hấp nhân tạo. - Nếu có phù phổi cấp dùng các thuốc phong bế hạch, khi cần chích máu tĩnh mạch 200 - 300 ml. - Nếu thiếu oxy cho thở oxy hoặc khí carbogen. - Rối loạn tim mạch cho thuốc trợ tim. - Có thể dùng thuốc an thần, thuốc chống co giật và giảm đau nếu cần. 1.4.2. Thuốc chống độc đặc hiệu Khái niệm thuốc chống độc đặc hiệu (Antidote) phải được hiểu là những chất can thiệp trực tiếp vào quá trình tương tác giữa chất độc với vị trí tấn công đặc hiệu. Những loại thuốc chống độc có thể tác dụng theo 3 cơ chế sau: - Thuốc chống độc kết hợp với chất độc: khi chất độc liên kết với vị trí đặc hiệu, thuốc phản ứng với chất độc và tạo thành một phức hợp mới, giải phóng thụ thể trở lại trạng thái ban đầu. Sau đó, phức hợp thuốc - chất độc sẽ được thải trừ ra khỏi cơ thể. - Thuốc kết hợp với thụ thể: tương tự như chất độc, thuốc cũng có khả năng kết hợp đặc hiệu với thụ thể, cạnh tranh với chất độc và do đó ngăn cản tác dụng của chất độc. - Thuốc làm thay đổi những điều kiện xung quanh thụ thể hoặc gây ra những biến đổi cấu trúc đặc hiệu làm cho chất độc mất khả năng liên kết với vị trí tấn công đặc hiệu.