3. Bụi 3.2.1 Khái niệm: Bụi bao gồm các hạt rắn, nhỏ có kích thước dưới 100 µm, trong đó đáng lưu ý là bụi hô hấp có kích thước dưới 5 micromét gây ra các bệnh bụi phổi nghề nghiệp. 3.2.2 Nguồn gốc: - Bụi khoáng: bụi chứa Silic tự do (thạch anh), bụi than, ximăng. - Bụi kim loại: bụi chì, Cadmium, Nikel, Beryllium. - Bụi hoá chất khác: rất nhiều hỗn hợp hoá chất và thuốc trừ sâu. - Bụi thực vật và hữu cơ: bột gạo, gỗ, bông, len, chè. - Bụi sinh học: các vi sinh vật, nấm, mốc, bào tử. 3.2.3 Các nghề hoặc công việc có nguy cơ tiếp xúc: - Khai thác mỏ (mỏ đá, than...). - Chế biến đá, xây dựng. - Cơ khí đúc, luyện kim. - Sửa chữa tàu, thuyền (tẩy rỉ, mài, đánh bóng). - Sản xuất thuỷ tinh, gốm, sứ, tráng men, sản phẩm bằng đá. - Sản xuất các chất mài mòn và làm sạch. - Sản xuất hoá chất và dược phẩm. - Sản xuất cao su. - Chế tạo, sửa acqui chì (hỗn hợp oxyt chì). - Cạo, chải sơn ở các toà nhà, thùng chứa và các bề mặt khác. - Sản xuất, vận chuyển, bảo quản, mua bán, sử dụng thuốc trừ sâu. - Sản xuất nông nghiệp (cày cuốc, thu hoạch, bảo quản nông sản). - Chế biến thực phẩm (sản xuất bánh kẹo, sản phẩm từ động vật). - Lâm nghiệp và chế biến gỗ. 3.2.4 Tác hại của bụi : a) Các bệnh đường hô hấp : - Các bệnh bụi phổi: bệnh bụi phổi-silic, bụi phổi-bông, bụi phổi-amiăng.... - Ung thư: do Asen và hợp chất của Asen, Cromat, chất phóng xạ, các sợi amiang.... - Bệnh nhiễm độc hệ thống: Mangan, chì, Cadmium và các hợp chất. - Dị ứng và những đáp ứng nhậy cảm khác: Nhiều bụi thực vật như bụi bã mía, bông, bột gạo, đay, rơm, chè, thuốc lá, gỗ là những chất có thể gây dị ứng do hít phải, có thể gây hen, sốt rơm hoặc ban mày đay. Ngoài ra một số loại bụi có thể gây nhiễm khuẩn: Các hạt chứa nấm, virut hoặc các mầm bệnh vi khuẩn. b) Những tác hại ngoài đường hô hấp : - Những tổn thương ở da và niêm mạc : + Bệnh viêm da, niêm mạc. + Dị ứng. + Ung thư. - Sự mòn răng: Sương mù axit sulfuric có thể gây mòn răng. - Những hậu quả sau khi vào qua da, dạ dày-ruột : + Nhiễm độc. + Ung thư. 3.3 Hoá chất 3.3.1 Khái niệm nguy cơ tiếp xúc với hoá chất tại nơi làm việc Khả năng gây ra nguy hiểm cho sức khoẻ, sự sống khi tiếp xúc với hoá chất tại nơi làm việc. 3.3.2 Nguồn gây ra - Các kim loại độc như: kẽm, đồng, chì, asen, selen... phát sinh từ quá trình nấu, luyện, đúc kim loại. - Các dung môi hữu cơ phát sinh từ các cơ sở in, sản xuất và sử dụng sơn, sản xuất giầy dép... - Hoá chất trừ sâu diệt cỏ phát sinh từ các cơ sở đóng chai, bao gói sản phẩm hoá chất trừ sâu. 3.3.3 Nguy cơ tiếp xúc và ảnh hưởng đến sức khoẻ: a) Hoá chất thâm nhập vào cơ thể theo 3 đường chính : - Ðường hô hấp là đường vào quan trọng nhất trong tiếp xúc nghề nghiệp. - Hấp thụ qua da khi tiếp xúc trực tiếp với hoá chất. - Ðường tiêu hoá do ăn hoặc uống phải khi thiếu vệ sinh. b) Ảnh hưởng của hoá chất đến sức khoẻ: - Tác hại lên da và niêm mạc: các tác hại này chiếm 90% ví dụ như chàm kích thích, chàm tiếp xúc dị ứng - Tác hại lên đường hô hấp gây nhiễm độc cấp tính có thể gây tử vong, gây các bệnh về phổi, phế quản như viêm phế quản mãn tính, viêm phế quản xuất tiết, khí phế thũng, viêm thuỳ phổi. - Gây ảnh hưởng toàn thân: ảnh hưởng đến cơ quan tạo máu, cơ quan tiêu hoá, tiết niệu và một số hoá chất có khả năng gây đột biến gen, ung thư như asen, crôm, dioxin và kim loại nặng. Hoạt động nghề nghiệp hiếm khi giới hạn ở sự tiếp xúc với một hoá chất riêng lẻ. Hầu như cùng một lúc công nhân phải tiếp xúc với nhiều hoá chất khác nhau kết hợp với các yếu tố môi trường khác (nhiệt độ cao-thấp, tiếng ồn,...). Sự kết hợp của hai hoặc nhiều hoá chất bởi phản ứng hoá học hoặc hấp thu vào cơ thể tạo ra một chất mới với những đặc tính khác hẳn có thể có hại tới sức khoẻ hơn những hoá chất tác động riêng lẻ. Vì thế, nên phòng tránh và giảm tới mức thấp nhất sự tiếp xúc phức tạp. 3.4. Yếu tố sinh học - Không khí, đất, nước và thực phẩm là những yếu tố của môi trường. Chúng bao quanh ta ở mọi nơi, trong mọi lúc, nghỉ ngơi cũng như lao động. Chúng không thể thiếu đối với sự sống. - Mỗi yếu tố của môi trường luôn chứa vô vàn các vi sinh vật. Nhưng môi trường hợp vệ sinh, các vi sinh vật này vô hại. - Khi bị ô nhiễm bởi các vi sinh vật gây bệnh, môi trường trở thành các phương tiện (đường) truyền nhiễm, lây lan các bệnh nhiễm trùng nguy hiểm như: tả, lỵ, thương hàn, viêm phổi, viêm gan, viêm não... + Không khí truyền bệnh qua đường hô hấp, qua da, niêm mạc. + Nước, hơi nước truyền bệnh qua đường tiêu hoá là chính, cũng có thể qua đường hô hấp, qua da và niêm mạc. + Ðất, bụi đất truyền bệnh qua đường da, niêm mạc, cũng có thể qua đường hô hấp, và cả đường tiêu hoá. - Nguồn sinh ra các vi sinh vật gây bệnh trong môi trường có thể từ các chất thải tiết như đờm rãi, phân, nước tiểu...của người ốm hoặc người khoẻ mang mầm bệnh; có thể từ súc vật như chó, mèo, chuột, bọ...thậm trí từ các chế phẩm của chúng như thịt tươi, da, lông thú... - Người khi tiếp xúc với môi trường bị ô nhiễm có thể bị bệnh : + Trực tiếp từ người tới người, một cách ngẫu nhiên như bệnh cúm, lao, dịch hạch, bạch hầu...khi ngồi đối diện, do hít phải nước bọt người mang mầm bệnh bắn vào không khí... + Gián tiếp qua bụi khi nước bọt khô đi... + Hoặc do nghề nghiệp buộc phải tiếp xúc: cán bộ y tế với các bệnh lây lan, truyền nhiễm; các công nhân nông trại, công nhân cống rãnh dễ mắc các bệnh nhiễm trùng truyền từ súc vật sang người...