NHẬP NỘI DUNG CẦN TÌM KIẾM VÀO Ô NÀY!

Bệnh học CÁC XÉT NGHIỆM HOÁ SINH VỀ TUYẾN TUỴ

Discussion in 'Nội tiết' started by hlthaibao, Nov 5, 2016.

LÀ 1 THÀNH VIÊN BIẾT CHIA SẺ - HÃY ĐĂNG BÀI XÂY DỰNG CỘNG ĐỒNG
BẤM NÚT LIKE CUỐI BÀI - COMMENT CẢM ƠN NGƯỜI ĐĂNG - SHARE BÀI VIẾT CHO CỘNG ĐỒNG LÀ HÀNH VI ỨNG XỬ ĐẸP CÓ VĂN HÓA
  1. hlthaibao

    hlthaibao Người sáng lập Staff Member ADMIN Sáng lập diễn đàn Thành viên

    Joined:
    Jul 27, 2015
    Messages:
    1,062
    Likes Received:
    1,295
    Trophy Points:
    942
    Gender:
    Male
    Occupation:
    Bác sỹ
    Location:
    Đại học tây nguyên
    Home Page:
    Money:
    7,785$
    CÁC XÉT NGHIỆM HOÁ SINH VỀ TUYẾN TUỴ
    Hai xét nghiệm amylase, lipase huyết thanh là 2 xét nghiệm chính để đánh giá tổn thương chức
    năng tuyến tuỵ. Lipase chỉ do tuỵ sản xuất, còn amylase ngoài tuỵ còn do tuyến nước bọt sản
    xuất. Nhưng thực tế hiện nay, ở các bệnh viện để chẩn đoán bệnh tuỵ thông thường hay làm
    xét nghiệm amylase ở huyết thanh và nước tiểu.1. Amylase huyết thanhAmylase là enzym xúc tác phản ứng thuỷ phân tinh bột, glycogen để tạo thành các sản phẩm
    trung gian như dextrin, maltose, glucose...
    Nguồn gốc của amylase:
    ở người amylase có 2 loại:
    - P-amylase có ở tuỵ,
    - S-amylase có ở tuyến nước bọt và một số cơ quan khác (như ở phổi, buồng trứng, niêm mạc
    ruột non, tổ chức mỡ...).
    Bình thường amylase huyết thanh có khoảng 40% là amylase của tuỵ và 60% amylase của tuyến
    nước bọt.
    Các phương pháp xác định amylase:
    + Trước kia, hoạt độ amylase máu, nước tiểu được xác định bằng phương pháp Wohlgemuth.
    Phương pháp Wohlgemuth dựa trên phản ứng thuỷ phân tinh bột của amylase; xác định độ pha
    loãng của amylase có trong một ml huyết thanh hoặc nước tiểu có khả năng thuỷ phân hết 2 mg
    tinh bột sau 30 phút, ở 37OC và pH = 6,8 để suy ra hoạt độ enzym.
    Bình thường:
    Amylase máu = 16 - 31 đơn vị Wohlgemuth.
    Amylase nước tiểu = 32 - 64 đơn vị Wohlgemuth.
    (Một đơn vị Wohlgemuth là hoạt độ enzym có trong 1 ml huyết thanh, hay nước tiểu thuỷ phân
    hết 1 mg tinh bột trong các điều kiện xác định).
    + Hiện nay người ta xác định hoạt độ amylase theo phương pháp động học theo nguyên lý:
    amylase thuỷ phân 2-chloro-4nitrophenyl-maltotrioside (CNPG3) thành 2-chloro-4Nitrophenyl
    (CNP), 2-Chloro-4Nitrophenyl-Maltodioside và glucose (G), theo phản ứng sau:
    Amylase
    5 CNPG3 --à 3 CNP + 2 CNPG2 + 3 G3 + 2 G
    Sự giải phóng CNP từ cơ chất và sự tăng hấp thụ của nó tỷ lệ thuận với hoạt độ amylase huyết
    thanh.
    Hiện nay người ta dùng Kit để xác định hoạt độ amylase máu, nước tiểu. Trị số bình thường của
    nó phụ thuộc vào kỹ thuật và thuốc thử (chủ yếu là cơ chất như G3, G7). Các Hãng khác nhau sẽ
    cho kết quả khác nhau, kết quả đơn vị đều tính là U/l. Trong đó G3 là 2-Chloro-4NitrophenylMaltotriosid (CNPG3) và G7 là p-Nitrophenyl-Maltoheptaoside (EPS).Bảng 2.1: Một số giá trị bình thường của hoạt độ amylase trong máu và nước tiểu ở 370C.
    Hãng Amylase huyết thanh,
    huyết tương Amylase nước tiểu


    - Vipharco (Pháp)- G3 < 90 U/l < 490 U/l (<450 U/24h)
    - Roche (Nhật Bản) 28-100 U/l < 460 U/l
    - Human (Đức) < 220 U/l 900 U/24h
    - BoeHringer
    Mannheim (Đức)-G7 < 220 U/l <1000 U/l (<900 U/24h)

    - Amylase huyết thanh tăng cao trong viêm tụy cấp, đặc biệt cao trong viêm tụy cấp có hoại tử.
    Ngoài ra amylase huyết thanh còn tăng trong một số trường hợp khác như:
    . Đợt cấp của viêm tụy mạn.
    . Tắc ống dẫn tụy do: sỏi hoặc u; thuốc gây co thắt đột ngột cơ vòng (như opiat, codein,
    methylcholin, chlorothiazide), mức tăng amylase huyết thanh từ 2 - 15 lần so với bình thường.
    . Biến chứng của viêm tụy (nang giả tụy, cổ trướng, apxe).
    . Chấn thương tụy, vết thương bụng.
    . Các u ác tính (đặc biệt là u phổi, u buồng trứng, u tụy, u vú...) thường tăng hơn 25 lần so với
    giới hạn bình thường (điều này hiếm khi thấy ở viêm tụy).
    . Suy thận tiến triển: thường tăng, thậm chí cả khi không có viêm tụy.
    . Tăng tiết amylase.
    . Loét dạ dày-tá tràng thủng vào tụy.
    . Do sỏi, hoặc u chèn ép tắc đường dẫn của tụy.
    . Ung thư tuyến tụy.
    Đôi khi, trong viêm gan truyền nhiễm, amylase không có nguồn gốc tụy vào máu tăng. Tắc ruột,
    xơ gan, các bệnh về thận, thiểu niệu thì amylase nước tiểu giảm làm tăng amylase máu.
    + Amylase giảm khi tụy bị hoại tử lan rộng, ngoài ra nó còn giảm trong một số bệnh l{ như:
    . Viêm tuỵ mạn tính.
    . Viêm tụy mạn tính tiến triển.
    . Xơ hóa ống dẫn tụy tiến triển.
    Có nhiều tác giả cho rằng hoạt độ amylase máu tăng cao, lớn hơn 1850 u/l thì tụy luôn có tổn
    thương mà tổn thương này có thể điều trị bằng phẫu thuật (hay xảy ra nhất là sỏi đường dẫn
    mật), tuyến tụy mất chức năng hay chỉ là phù nề tụy. Nếu hoạt độ amylase từ 460- 925 U/l thì
    luôn luôn kết hợp với tổn thương tụy mà tổn thương này không thể điều trị bằng phẫu thuật. Ví
    dụ: chảy máu tụy, hoại tử tụy.2. LipaseLipase là enzym chỉ có ở tuỵ, có tác dụng thuỷ phân lipid (như triglycerid, phospholipid), là
    enzym bị ức chế bởi các chất như quinin, eserin, disopropylfluorophosphat và được taurocholat
    và glycocholat hoạt hoá.
    Có nhiều phương pháp xác định lipase và dựa trên nguyên lý chung là lipase tác dụng lên cơ
    chất, giải phóng ra acid béo tự do và được chuẩn độ bằng dung dịch NaOH.
    + Lipase máu tăng cao trong một số trường hợp sau:
    - Tăng cao trong viêm tụy cấp; có thể tăng duy trì trong 14 ngày sau khi amylase máu trở về
    bình thường.
    - Tắc nghẽn ống dẫn tụy do:
    . Sỏi.
    . Dùng thuốc co thắt cơ vòng gây tăng từ 12 - 15 lần so với bình thường.
    . Tắc nghẽn một phần kết hợp với thuốc tăng tiết lipase.
    Ngoài bệnh tuỵ ra, lipase còn tăng trong một trường hợp khác như:
    . Thủng hay u đường tiêu hóa, đặc biệt có liên quan với tụy.
    . Tổn thương tổ chức mỡ sau chấn thương.
    . Phẫu thuật và một số trường hợp xơ gan.
    Lipase huyết tương luôn bình thường trong bệnh quai bị.
    Trong thực tế, xét nghiệm lipase huyết tương hầu như ít được dùng trong lâm sàng.3. Một số bệnh tuyến tụy3.1. Viêm tụy cấpĐể chẩn đoán bệnh viêm tụy cấp, hiện nay ở các bệnh viện thông thường người ta làm các xét
    nghiệm sau:* Amylase máu:Hoạt độ amylase máu và nước tiểu trong viêm tụy cấp tăng rất cao so với bình thường.
    Viêm tụy cấp làm hoạt độ amylase máu tăng nhanh và cao khi bệnh khởi phát sau 3- 6h, tăng
    cao hơn 460 U/l trong vòng 8h ở 75% số bệnh nhân, có thể tăng 30-40 lần so với bình thường,
    đạt cực đại sau 20 - 30 h và có thể duy trì từ 48 - 72h. Amylase tăng cao trong viêm tụy tiến
    triển, thường tăng cao ở giai đoạn đầu, giảm dần ở các giai đoạn sau.Hoạt độ amylase huyết tương tăng cao (trên 1000 U/l) được coi như dấu hiệu của viêm tụy cấp.
    Hoạt độ cao tương tự có thể gặp trong tắc nghẽn ống dẫn tụy. Nó có xu hướng giảm sau vài
    ngày ở hơn 10% bệnh nhân viêm tụy cấp. Đặc biệt, khi quá 2 ngày sau các triệu chứng khởi phát
    có thể gặp giá trị bình thường, thậm chí ngay cả khi chết do viêm tụy cấp. Các giá trị amylase
    huyết tương bình thường hay gặp trong viêm tụy cấp có liên quan đến rượu. Ngoài ra, amylase
    cũng có thể bình thường trong viêm tụy mạn tái phát và các bệnh nhân tăng triglycerid. Hoạt độ
    Amylase ít thay đổi trong viêm tụy mạn không tiến triển.Amylase huyết tương tăng từ 7 - 10 ngày sẽ gợi ý một ung thư tụy kết hợp hay nang giả tụy.* Amylase nước tiểu:Tăng amylase trong nước tiểu cũng phản ánh sự thay đổi amylase huyết tương trong khoảng
    thời gian sau 6 - 10h, thỉnh thoảng mức độ tăng amylase nước tiểu cao hơn và k o dài hơn
    amylase huyết tương. Hoạt độ enzym 24h có thể bình thường, thậm chí ngay cả khi lấy mẫu xét
    nghiệm từng giờ cho giá trị tăng. Hoạt độ amylase nước tiểu ở từng giờ có thể có hữu ích, tăng
    hơn 74U/l/1h.* Định lượng nồng độ glucose máu:Glucose máu tăng cao, glucose niệu dương tính (+). Nguyên nhân là do trong viêm tụy cấp làm
    thiếu hụt insulin, do đó làm tăng đường máu và có glucose niệu.* Xác định hàm lượng canxi toàn phần:Bình thường canxi TP = 2,0 – 2,5 mmol/l.
    Trong viêm tụy cấp: canxi TP giảm trong một số trường hợp viêm tụy cấp từ 1- 9 ngày sau khởi
    phát. Việc giảm này luôn luôn xảy ra khi hoạt độ amylase và lipase trở về bình thường. Canxi
    giảm do lipase tụy tác dụng, các acid b o được giải phóng và kết hợp với canxi tạo nên dạng
    như xà phòng canxi.
    Ngoài các xét nghiệm trên nếu có điều kiện trang bị máy, hoá chất có thể làm 2 xét nghiêm sau:* Lipase máu:Xét nghiệm lipase máu nhạy hơn amylase. Nó tăng chậm hơn nhưng mức tăng dài hơn.
    + Tăng bệnh lý:
    - Viêm tụy cấp sau 3 ngày, lipase vẫn có thể tăng trong khi amylase lại giảm nhanh chóng.
    - Viêm tụy mạn: mức tăng lipase ít hơn nhưng x t nghiệm này có tác dụng theo dõi, kiểm tra.
    + Giảm bệnh lý:- Lipase giảm mạnh ở bệnh tụy mạn tính.
    * Xác định tỷ số độ thanh lọc amylase/creatinin:Hiện nay độ thanh lọc được chú { như một phương pháp hiện đại để xác định chức năng thận
    có bình thường hay không. Phương pháp này vừa cho biết mức độ tổn thương, vừa cho biết
    chức năng lọc của cầu thận, chức năng bài tiết và tái hấp thu của tế bào ống thận.
    Bình thường màng lọc cầu thận chỉ cho một lượng ít amylase qua và đào thải theo nước tiểu.
    Khi có tổn thương thận, amylase được lọc qua màng lọc cầu thận và đào thải ra nước tiểu nhiều
    hơn. Một số nghiên cứu gần đây cho rằng, độ thanh thải Amylase/Creatinin (ACR) phản ánh tốt
    hơn sự tăng amylase máu, nhất là khi xét nghiệm hoạt độ amylase máu vẫn bình thường. Các
    tác giả cho rằng, tỷ số độ thanh thải Amylase/Creatinin hỗ trợ cho chẩn đoán viêm tụy cấp.
    Tỷ số độ thanh thải Amylase/Creatinin được tính theo công thức sau:
    Ca Ua x Pc
    ACR = = (((( ( 100%
    Cc Pa x Uc
    Trong đó:
    ACR: Độ thanh thải Amylase/Creatinin (%).
    Ca : Độ thanh thải amylase.
    Cc : Độ thanh thải creatinin.
    Ua : Hoạt độ amylase nước tiểu.
    Pa : Hoạt độ amylase máu (trung bình cộng hoạt độ amylase máu đo
    ở thời điểm đầu và cuối thời điểm 24h)
    Uc : Nồng độ creatinin nước tiểu
    Pc : Nồng độ creatinin máu (là trung bình cộng nồng độ creatinin máu
    đo ở thời điểm đầu và cuối 24h).
    + Bình thường:
    Tỷ số độ thanh thải Amylase/Creatinin (ACR ) < 5%.
    + Bệnh lý: Tỷ số ACR > 5% gặp trong viêm tụy cấp (có khi ACR > 10%).
    Bệnh nhân viêm tụy cấp thường có độ thanh thải ACR lớn hơn giá trị bình thương 4 - 5 lần. Tỷ
    số độ thanh thải Amylase/Creatinin cùng với hoạt độ amylase niệu có giá trị chẩn đoán cao khi
    bệnh nhân viêm tụy cấp đến muộn.
    * Bilirubin huyết tương:
    Có thể tăng khi viêm tụy cấp có nguồn gốc từ ống mật, nhưng lại bình thường trong viêm tụy do
    rượu.
    * ALP, GOT, GPT huyết tương:
    Có thể tăng song song với bilirubin huyết tương hơn là với amylase, lipase hay nồng độ cacxi
    máu.
    Hiện nay, thông thường ở các bệnh viện, để chẩn đoán viêm tụy cấp, người ta thường làm các
    xét nghiệm sau:
    - Xác định hoạt độ amylase trong máu và nước tiểu.
    - Định lượng glucose trong máu và nước tiểu.
    - Các chất điện giải trong huyết tương.
    - Nước tiểu: 10 chỉ tiêu.2.3.2. Bệnh mạn tính tuyến tụy (viêm tụy mạn, u tuyến tụy)- Amylase dịch tiêu hóa tăng cao so với bình thường, chiếm tới 80% trong số bệnh nhân viêm
    tuỵ mạn.
    - Cả amylase và lipase máu tăng ở 10% bệnh nhân viêm tụy mạn.
    - I131 không bình thường ở 1/3 bệnh nhân viêm tụy mạn.
    - Nghiệm pháp dung nạp đường máu không bình thường ở 25% bệnh nhân viêm tụy mạn.2.3.3. Nang giả tụy- Bilirubin trực tiếp huyết tương tăng hơn hai lần so với bình thường (>34,2(mol/l) ở 10% bệnh
    nhân.
    - ALP huyết tương tăng cao ở khoảng 10% bệnh nhân.
    - Glucose máu tăng ở khoảng 10% bệnh nhân.
    - Các dấu hiệu sớm về cận lâm sàng của viêm tụy cấp được biểu hiện (dấu hiệu này thoảng qua
    và không thể nhận biết ở 1/3 bệnh nhân).
     
  2. tuanpham58

    tuanpham58 Có ít bài đăng Thành viên

    Joined:
    Nov 8, 2017
    Messages:
    3
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    11
    Gender:
    Male
    Money:
    10$
    Sản xuất và kinh doanh cồn thạch và cồn khô cho người bắt đầu khởi nghiệp mà đầu tư ít vốn. Tôi sẽ tư vấn cho các bạn thực tế công nghệ sản xuất cồn thạch, cồn khô và cồn gel.

    Liên hệ Số điện thoại: 0122.9625.524 (Mr Thành)
    [​IMG]

    1. Công nghệ làm Cồn Thạch

    Hiện giờ cồn thạch được phân phối phổ biến hơn so với cồn khô do có nhiều ưu điểm. Quy trình làm cồn thạch không sử dụng nhiệt nên rất tiện lợi và thiết bị đầu tư ít. Quy trình sản xuất cồn thạch cho nhiệt lượng lớn, cháy lâu. Đặc biệt cồn thạch khi cháy không để lại cặn, thuận lợi vệ sinh bếp. Không có khí độc hại và cay mắt nên rất an toàn cho người dùng.

    Chi phí cho thiết bị làm cồn thạch tầm 10-20 triệu, diện tích 16m2 là có thể làm được được với quy mô nhỏ và vừa. Nếu bạn có điều kiện phân phối cồn thạch với sản lượng lớn thì có thể mua trang thiết bị bán tự động dao động 100-200 triệu để làm ở quy mô to hơn.

    2. Công nghệ sản xuất Cồn Khô

    Quy trình làm cồn khô khi đốt không hại mắt và không có khí độc hại. Chất lượng cục cồn cứng, vận chuyển dễ dàng, không chảy nước. Giá cả cạnh tranh.

    Tôi sẽ tư vấn cho các bạn 3 công thức cồn khô (bao gồm cả loại cồn siêu cháy không ra nước khi đốt). Các bạn có thể thay đổi được chất lượng cồn trong quá trình sản xuất. Đầu tư trang thiết bị sản xuất giản đơn, có thể đặt làm tại các xưởng Inox. Với không gian 16 m2, các bạn có khả năng sản xuất ra 500 kg cồn khô 1 ngày.

    3. Công nghệ làm Cồn Gel

    Cồn gel sản xuất ra khi đốt có mùi hương dễ chịu, không hại mắt. Công thức làm cồn gel đơn giản hơn cồn khô vì không sử dụng đến nhiệt. Không cần nhiều trang thiết bị và đặt khuôn, ít nhân công. Chi phí đầu tư thấp. Có khả năng làm hơn một tấn cồn 1 ngày..

    Tôi sẽ hướng dẫn cho các bạn tự tự tay làm ra sản phẩm với trang thiết bị và nguyên liệu do tôi chuẩn bị sẵn.

    Giá tư vấn cho một sản phẩm: 5 triệu đồng. Có hợp đồng chuyển giao.

    Xin liên hệ Số ĐT: 0122.9625.524 (A. Thành)
     
DMCA.com Protection Status