Nhiễm khuẩn cấp ở toàn bộ ruột non, ỉa như nước chảy nhiều lần, mửa, co cứng cơ, mất nước, đái ít và cơn truy tim mạch. Rất dễ gảy tử vong. Triệu chứng: Nung bệnh từ vài giờ đến 5 ngày. Khởi phát: ỉa chảy đột ngột từng hồi, đau lâm râm ở bụng, ỉa toàn nước, nôn mửa gây mất nước và điện giải nghiêm trọng, khát nước dữ dội, đái ít, co cứng cơ, yếu mệt, người nhão mềm, mắt trũng sâu, da ngón tay nhăn nheo. Một số ít có sốt nhẹ, gai rét, vã mồ hôi, lạnh đầu chi. Phân màu trắng đục, lợn cợn vảy trắng, không có máu, không có thức ăn, mùi tanh nồng, không thối, kiềm cao (pH 8 - 8,5). Máu cô đặc, nhiễm acid chuyển hoá, mất kali (natri bình thường). Tím tái, truy tuần hoàn, có thể hoại tử tiểu quản thận. Tử vong trên 50% nếu không chữa trị kịp thời. Nếu đúng liệu pháp nước - điện giái sẽ thấp: chỉ còn khoảng 1%. Điều trị: Bù nước, điện giải kịp thời: NaCl 0,9%, lactat Ringer, truyền nhanh 1 - 2 ml/kg/phút. Tiếp nước qua miệng thật nhiều bằng oresol. Trẻ con cần thêm Kali chlorid. (kiểm tra áp suất máu và mạch, căng cứng của da, nước tiểu tiện ra để đánh giá). Không dùng huyết tương. Dùng sớm tetracyclin: người lớn 500 mg cách 6 giờ trong 72 giờ, trẻ con dưới 8 tuổi 50 mg/kg X 4 lần/ ngày trong 72 giờ. Một liều độc nhất doxycyclin 300 mg uống với người lớn, 60 mg/kg với trẻ em là có hiệu lực. Có thể dùng furazotidon hoặc Co-Trimoxazol. Phòng bệnh: Đang nghiên cứu tìm vaccin mới. Nguồn lây chính: nước, thức ăn. Tốt nhất là không ăn uống (các loại rau sống, gỏi cá tôm, các loại mắm tóm ruốc cũng có phẩy khuẩn tả...), uống nước đun sôi. Giữ bàn tay sạch. Những người tiếp xúc với bệnh nhân tả phải uống phòng bằng tetracyclin.