Thường do viêm tai, viêm xoang, viêm phổi. Do Staphylococcus, Pseudomonas aeruginosa, Streptococcus, vi khuẩn ái khí và vi nấm. Triêu chứng: Sốt, động kinh hoặc rối loạn tâm thần, vô cảm, giám trí nhớ, thay đổi nhân cách. Có thể liệt nhẹ nửa thân, biến đổi về thị trường, mất ngôn ngữ, thất điều - (Nhức đầu, sốt, động kinh và liệt). Đặc biệt là tăng áp lực nội sọ, nhức khắp cả đầu liên tục và tăng lên, tâm thần, tri giác giảm, dần dần hôn mê vì thân não bị chèn ép, có thể tụt não. Ba dấu hiệu quan trọng: nhiễm khuẩn, tăng áp lực nội sọ và thần kinh khu trú. Điều tri: Xét nghiêm - Siêu âm - X quang - MRI - Chọc hút mủ chính xác áp xe dẫn lưu để giải áp - Bơm kháng sinh - Phẫu thuật bóc bỏ khối áp xe nếu cần thiết. Thuốc: Kháng sinh (xem 1.1) chủ yếu penicilin (chục triệu Ul/ngày), chloramphenicol 5-6 g/ngày, aminoglycosid kém hơn. Metronidazol với vi khuẩn ky khí. Amphoterecin B với vi nấm. Chú ý điều trị các ổ nhiễm khuẩn nguyên phát. Áp xe ngoài màng cứng và tụ mủ dưới màng cứng: điều trị, thuốc phải có thầy thuốc chuyên khoa (xem thêm 1 /IX).