Sự suy giảm vi cấu trúc và thoái triển của khối mô xương ở từng đơn vị thể tích, gây nên yếu xương, giòn, dễ gãy, cho dù tỷ số thành phần khoáng và hữu cơ vẫn không thay đổi trong phần xương có bể ngoài bình thường còn lại. Loang xương chia làm 2 loại: tiên phát (sau mãn kinh) và thứ phát (tuổi già). Triệu chứng: Có thể đau trong xương, đặc biệt ở lưng. Gãy xương thường ở các đốt sống chịu lực (T, và dưới), gẫy biệt lập đốt sống T- 4 hoặc phía trên gợi ý về u ác tính) càng đau khi mang vác, ân đau tại chỗ. Nhiều chỗ gẫy xương khi đè nén có thể gây ra gù, ưỡn cột sống cổ quá mức, đau nhức âm ỉ mạn tính lộ rõ ở dưới lồng ngực và thắt lưng. Ngưòi bệnh rất dễ gãy xương, đặc biệt gãy xẹp đốt sống, cổ xương đùi. Gãy xương hông, xương quay xa thường do ngã. • Điều tri: X quang (tránh nhầm với loãng xương do corticoid, thiếu vitamin D, A), hấp thụ ký photon đơn, kép, và CT. Xét nghiệm. Điều trị phòng ngừa (vd phụ nữ mãn kính dùng estrogen) đau cấp và mạn bằng phương tiện: giá đỡ, xoa bóp, hơi nóng, chỉnh hình, luyện tập, thuốc, tránh mang vác nặng và ngã. Bổ sung vitamin D. calci carbonat, calci citrat (1,5 mg Ca/ ngày có thể tới 3g một ngày, vitamin D 50.000 IU, 2 lần/tuẩn). Phối hợp Ca tluorat và 1 g Ca bổ sung nhưng dễ gẫy xương vi vậy khuyên không dùng. ■ Dùng etidronat disodium 400 mg/ ngày X 2tuần, ngừng thuốc 2,5 - 3 tháng chứng tỏ hứa hẹn. Calcium Sandoz, Ca gluconat uống cũng tốt. Thuốc khác: Alendronat Na (Dentos), Dihydroxy cholecalciíerol (Macalol), Salcatonin (Menocal), Calcitonin cá hồi tổng hợp (Miacalcic), Calcitriol (Rocaltrol...), Cholecalciterol (vitamin D3B.O.N). Thuốc giảm đau: các loại AINS (mục 17/11). Đề phòng: sinh hoạt an toàn (đi lại, làm việc), tránh ngã, các sang chấn khác.