Thảo luận Bờm mỡ đại tràng là gì?

Thảo luận trong 'NGOẠI KHOA' bắt đầu bởi hlthaibao, 15/5/18.



LÀ 1 THÀNH VIÊN BIẾT CHIA SẺ - HÃY ĐĂNG BÀI XÂY DỰNG CỘNG ĐỒNG
BẤM NÚT LIKE CUỐI BÀI - COMMENT CẢM ƠN NGƯỜI ĐĂNG - SHARE BÀI VIẾT CHO CỘNG ĐỒNG LÀ HÀNH VI ỨNG XỬ ĐẸP CÓ VĂN HÓA
  1. hlthaibao

    hlthaibao Người sáng lập Ban quản trị ADMIN Sáng lập diễn đàn Thành viên

    Tham gia ngày:
    27/7/15
    Bài viết:
    1,073
    Đã được thích:
    1,304
    Điểm thành tích:
    942
    Giới tính:
    Nam
    Nghề nghiệp:
    Bác sỹ
    Nơi ở:
    Đại học tây nguyên
    Web:
    Money:
    2,616$
    Viêm túi thừa mạc nối (bờm mỡ đại tràng -Epiploic Appendagitis)

    Giới thiệu

    Túi thừa mạc nối ( hay còn gọi là bờm mỡ – Epiploic appendages ) có số lượng khoảng 50-100 nằm ở mặt ngoài và song song dải cơ dọc của đại tràng và được mô tả trong giải phẫu lần đầu tiên bởi Vesalius năm 1543.

    [​IMG]

    Các túi thừa mạc nối có chiều dài 0.5-5cm, và đi kèm theo bởi một hay hai tiểu động mạch, tĩnh mạch. Xoắn túi thừa mạc nối là một trường hợp hiếm, nhưng có thể đưa đến tình trạng thiếu máu tại túi thừa và có biểu hiện như một đau bụng cấp. Bên cạnh cơ chế sinh lý bệnh chủ yếu là do xoắn, còn có thể do huyết khối tĩnh mạch tự phát ở túi thừa mạc nối. Viêm túi thừa mạc nối thường xảy ra ở đại tràng sigma, manh tràng, nhưng ở đai tràng sigma nhiều hơn. Tương ứng theo giải phẫu nên vị trí đau thường ở ¼ bụng dưới trái, và đôi khi ở bên phải. Việc chẩn đoán viêm túi thừa mạc nối (Epiploic appendagitis – EA)vẫn còn là một khó khăn do không có biểu hiện lâm sàng đặc trưng.

    Phương pháp nghiên cứu

    Tất cả những bệnh nhân với chẩn đoán với EA từ tháng 1 năm 2004 và tháng 12 năm 2006 tại phòng cấp cứu được xem xét bởi hai tác giả chia sẻ kinh nghiệm về việc chẩn đoán này.

    Kết quả

    10 bệnh nhân (3 nữ và 7 nam giới, độ tuổi trung bình 44,6, khoảng: 27-76 tuổi) được chẩn đoán EA. Đau bụng là triệu chứng hàng đầu, cơn đau ở ¼ bụng dưới bên trái (8 bệnh nhân, 80%) và bên phải (2 bệnh nhân, 20%). Hầu như tất cả các bệnh nhân không sốt, ngoại trừ một bệnh nhân,và không có triệu chứng buồn nôn, nôn, tiêu chảy. CRP tăng nhẹ (1,2 mg / DL) trong 3 bệnh nhân (33%). Kết quả chụp cắt lớp vi tính CTđặc hiệu cho EA có trong 5 bệnh nhân. Điều trị là phẫu thuật nội soi cắt bỏ (n = 8), cắt bỏ thông qua mở bụng thông thường (n = 1) và điều trị bảo tồn (n = 1).

    Thảo luận

    Viêm túi thừa mạc nối ( bờm mỡ đại tràng) lần đầu tiênđược nêu ra bởi Lynn et al năm 1956 là một chẩn đoán hiếm thấy có liên quan đến đau ở ¼ bụng dưới phải, trái.

    Sinh lý, Sinh lý bệnh

    Các chức năng sinh lý của túi thừa mạc nối đã được đề xuất. Bao gồm: vai trò của một “tấm đệm” mềm, đàn hồi cho đại tràng, có vai trò trong phản ứng miễn dịch và sự hấp thu của đại tràng. Xoắn bệnh lý, thắt hoặc kéo căngcủa các túi thừa mạc nối dọc theo trục dài của nódẫn đến giảm cung cấp máu, tiếp theo chuỗi sinh lý bệnh là hình thành huyết khối tĩnh mạch và hoại tử. Hoại tử đôi khi có thể là xuất huyết như trong hình 1.

    [​IMG]

    Hình 1: Hình ảnh hoại tử xuất huyết của túi thừa mạc nối qua nội soi


    Các biến chứng có thể xảy ra sauviêm túi thừa mạc nối: Hiện tượng viêm có thể gây ra dây dính, hoặc hình thành ổ áp xe khu trú có thể giả như một khối u. Lồng ruột, tắc ruột, hình thành áp xe, viêm phúc mạc là các biến chứng không được tìm thấy trong nhóm bệnh nhân của chúng tôi.

    Đặc điểm lâm sàng

    Viêm túi thừa mạc nối ( bờm mỡ) có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi. Trong nghiên cứu của chung tôi, Bn có độ tuổi trung bình 44,6, và tần suất xảy ra ở nam nhiều hơi ( nam/nữ: 7/3)
    Khám lâm sàng, bệnh nhân có đau khu trú, không lan, đau nhói và thường khởi phát sau một hoạt động thể dục. Tất cả các Bn của chúng tồi đầu có dấu hiệu ấn đau, đề kháng. Và hầu như không có triệu chứng nào khác. Viêm túi thừa, viêm ruột thừa thường là những chẩn đoán được nghĩ đến trước khi có những chẩn đoán hình ảnh, nội soi thám sát. Đau thường ở ¼ bụng dưới trái hoặc phải. Khi đau xuất hiện ở ¼ bụng dưới phải, nó có thể giống như một viêm ruột thừa, tuy nhiên đau thường hiện diện ở bên trái hơn, nên có thể giống như viêm túi thừa cấp (diverticulitis)của đại tràng sigma. Như đã nêu trong một nghiên cứu trước đây của Son et al, chúng tôi cũng không tìm ra sự liên hệ giữa béo phì và viêm túi thừa mạc nối (bờm mỡ). Các xét nghiệm cận lâm sàng có giá trị bình thường, ngoại trừ CRP tăng nhẹ (1-2 mg/dL) ở 2 bệnh nhân (25%). Giả thuyết cho rằng hoại tử gây ra kích thích tăng CRP, giống như ở những Bn bị hoại tử cơ. Vì hoại tử thiếu máu mỡ như viêm túi thừa mạc nối (bờm mỡ đại tràng –Epiploic Appendagitis -EA) có thể dẫn đến một đáp ứng viêm, tương tự nhu ở nhữn Bn bị hoại tử cơ.

    Chẩn đoán hình ảnh
    Trong quá khứ, chẩn đoán EA thường được phát hiện trong lúc mở bụng thám sát. Ngày nay, siêu âm và CT trong một số trường hợp hỗ trợ các bác sĩ chẩn đoán đúng trước khi mổ. Siêu âm đôi khi cho thấy một khối tăng âm hình bầu dục với một đường viền giảm âm. Trên siêu âm Doppler, không có hình ảnh máu chảy ở trung tâm. Hình ảnh này được quan sát thấy ở 3/10 bệnh nhân (33%). Siêu âm kết hợp với CT scan được thực hiện giúp chẩn đoán chính xác trước mổ ở 3/10 bệnh nhân.
    Túi thừa mạc nối bình thường không nhìn thấy trên CT scan. Túi thừa mạc nối có mật độ của mỡ vì vậy không có thể được phân biệt được vớicác cấu trúc mỡ khác như mỡ sau phúc mạc, trừ khi chúng được bao quanh bởi dịch trong khoang phúc mạc hoặc bị viêm. Với việc sử dụng CT scan bụng để đánh giá cho đau bụng dưới sử dụng ngày càng tăng, sự phát hiệnViêm túi thừa mạc nối (Epiploic Appendagitis- EA) đã tăng lên. Năm 1986 Danielsonet al lần đầu tiên báo cáo một trường hợp EAđược chẩn đoán bằng CT scan. Trên CT scan là hình ảnh đậm độ của mỡ hình bầu dục 2-4cm, được baoquanh bởi những tổn thương viêm (Hình 2 + Hình. 3). Dày lá phúc mạc thành kế cận đôi khi được tìm thấy do sự lan rộng của hiện tượng viêm.Ngược lại với viêm túi thừa (diverticulitis),trong viêm túi thừa mạc nối (EA) đường kính của thành đại tràng bình thườngvà không có dấu hiệu của sự dày lên.

    [​IMG]

    Hình 2

    [​IMG]

    Hình 3

    Điều trị
    Việc điều trị Viêm túi thừa mạc nối còn là một chủ đề tranh cãi. Một số tác giả cho rằng bệnh có thể tự giới hạn trong 10 ngày với dùng thuốc khángviêm bằng đường uống.Tuy nhiên, chúng tôi đã quan sát thấy rằng có xuất hiện tái phát ở những bệnh nhân điều trị bảo tồn. 4 trong số 10 bệnh nhân trong nghiên cứu này (40%) đã dau bụng khu trú trong hai ngày, hoặc bốn tuần trước khi đến phòng cấp cứu. Điều này không thể được dùng như là bằng chứng quyết định EA tái phát nếu không được điều trị phẫu thuật. Tuy nhiên, nó gợi lên nghi ngờ rằng điều trị bảo thủ có thể có một xu hướng tái phát và can thiệp phẫu thuật cần được xem xét. Theo ý kiến cá nhân của tác giả, điều trị phẫu thuật có khả năng ngăn ngừa tái phát, viêm gây dính, và các biến chứng khác. Chúng tôi ưu tiên phẫu thuật nội soi ổ bụng, bằng một cách tiếp cận đơn giản, buộc thắt và cắt bỏ phần túi thừa mạc nối bị viêm. Bệnh nhân hồi phục nhanh chóng và có thể nhanh chóng trở lại làm việc. Tuy nhiên, các biến chứng của phẫu thuật là chảy máu, nhiễm trùng hoặc phản ứng bất ngờ đối với thuốc gây mê cũng như biến chứng cụ thể của nội soi ổ bụng phải được trao đổi với bệnh nhân. Giới hạn của nghiên cứu này là số lượngBn ít. Một kết luận cuối cùng cho phương pháp điều trị tốt nhất không thể được rút ra. Chúng tôi đề nghị một nghiên cứu đánh giá trên một số lượng lớn bệnh nhân để có tiếp tục đánh giá vấn đề tranh cãi này.
    Tóm lại
    Ở những bệnh nhân đau bụng cấp khu trú ( đa số ở ¼ bụng dưới trái, phải) không kèm các triệu chứng khác như buồn nôn, sốt, nôn hoặc xét nghiệm không điển hình, chẩn đoán Viêm túi thừa mạc nối nên được xem xét như là một chẩn đoán phân biệt hiếm của viêm ruột thừa và viêm túi thừa (diverticulitis)sigma. Với sự phát triển của CT scan và siêu âm, là công cụ chẩn đoán hình ảnh, EA sẽ được chẩn đoán nhiều hơn trong tương lai. Nghiên cứu này mô tả các đặc điểm lâm sàng của EA như là một tài liệu hướng dẫn bác sĩ phẫu thuật để chẩn đoán chính xác của căn bệnh hiếm gặp này.


    Nguồn: http://www.medscape.com/viewarticle/569172
     
    Phương Nga thích bài này.
DMCA.com Protection Status